Chương 1: Cơ sở pháp lý về hoạt động của tổ chức công đoàn 1. Công đoàn Việt Nam trong mối liên hệ với ILO Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) được thành lập năm 1919, khi thành lập ILO chỉ có 45 nước tham gia. Đến nay, ILO đã có 183 quốc gia thành viên. ILO được thành lập trên cơ sở ba mục tiêu cơ bản là mục tiêu nhân đạo (cải thiện điều kiện làm việc của người lao động); mục tiêu chính trị (đảm bảo công bằng xã hội và bảo vệ các quyền lao động và quyền con người sẽ tạo bình ổn xã hội); và mục tiêu kinh tế.
Để thực hiện các mục tiêu trên, ILO xây dựng các tiêu chuẩn lao động quốc tế thông qua hình thức các Công ước và Khuyến nghị trong đó quy định các tiêu chuẩn tối thiểu về quyền của người lao động, ví dụ: quyền tự do thương hội, quyền được tổ chức và đàm phán tập thể, quyền xoá bỏ lao động cưỡng bức, không bị phân biệt đối xử tại nơi làm việc và trong việc làm vv… Năm 1982 Việt Nam tham gia ILO, sau đó vì một số lý do kỹ thuật Việt Nam rút khỏi ILO. Năm 1992, Việt Nam tái gia nhập ILO và tính đến nay Việt Nam đã phê chuẩn 18 Công ước trong tổng số 188 Công ước của ILO. So với một số quốc gia trong khu vực, số lượng Công ước đã phê chuẩn của Việt Nam ở mức trung bình. Việt Nam đã thông qua 5 Công ước cơ bản trong số 8 Công ước của ILO liên quan đến việc xoá bỏ lao động cưỡng bức, xoá bỏ lao động trẻ em và xoá bỏ việc phân biệt đối xử tại nơi làm việc, đó là: Công ước số 29 về xóa bỏ lao động cưỡng bức, được phê chuẩn ngày 5/3/2007; Công ước số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ, được phê chuẩn ngày 7/10/1997; Công ước số 111 về chống phân biệt đối xử trong công việc, được phê chuẩn ngày 7/10/1997; Công ước số 138 về độ tuổi tối thiểu được nhận vào làm việc, được phê chuẩn ngày 24/6/2003; Công ước số 182 về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, được phê chuẩn ngày 19/12/2000.
Các thành viên ILO đã phê chuẩn công ước có nghĩa vụ báo cáo và kết hợp áp dụng với hệ thống pháp luật trong nước, kết hợp áp dụng với các điều khoản thực thi nghĩa vụ quy định trong Công ước đã phê chuẩn. Ở Việt Nam, nội dung của các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản (CILS) về lao động cưỡng bức, lao động trẻ em và chống phân biệt đối xử tại nơi làm việc đã có sự chuyển hoá vào hệ thống pháp luật Việt Nam. CILS gồm có 4 tiêu chuẩn, cụ thể như sau: Tiêu chuẩn thứ nhất: tự do hiệp hội và quyền thương lượng tập thể, dựa trên các tiêu chí quy định tại Công ước số 87 và Công ước số 98. Với các quyền cơ bản 123doc 6 như: Quyền được tổ chức và gia nhập các tổ chức theo sự lựa chọn của mình (bên phía người lao động thường được gọi là quyền công đoàn); Quyền tự đề ra điều lệ và quy chế của tổ chức; tự bầu ra người đại diện cho tổ chức và đề ra chương trình hành động của tổ chức; Quyền được bảo vệ để chống lại việc đình chỉ hoặc giải tán tổ chức của mình bởi cơ quan hành chính (không thể bị bất cứ một cơ quan hành chính nào buộc phải giải tán hoặc đình chỉ); Quyền liên kết các tổ chức của NLĐ và NSDLĐ có quyền gia nhập hoặc trở thành hội viên của các liên đoàn, tổng liên đoàn và công đoàn quốc tế.
Tiêu chuẩn thứ hai: xóa bỏ mọi hình thức lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc, dựa trên các tiêu chí quy định tại Công ước số 29 và công ước số 105. Tiêu chuẩn thứ ba: xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, dựa trên các tiêu chí quy định tại Công ước số 138 và Công ước số 182. Tiêu chuẩn thứ tư: xóa bỏ phân biệt đối xử trong công việc, dựa trên các tiêu chí quy định tại Công ước số 100, Công ước số 111. Qua nghiên cứu, so sánh 4 nhóm tiêu chuẩn lao động trên với pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật Việt Nam, cho thấy có một số yêu cầu về tiêu chuẩn tự do hiệp hội theo tiêu chuẩn lao động quốc tế mà Việt Nam chưa đáp ứng được: Một là, chưa đáp ứng được quyền tự do tổ chức và gia nhập các tổ chức của người lao động, mặc dù Bộ luật Lao động đã cho phép NLĐ và NSDLĐ có quyền thành lập, gia nhập, hoạt động trong tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, Bộ luật Lao động và Luật Công đoàn quy định Công đoàn Việt Nam có hệ thống tổ chức 4 cấp từ trung ương đến cấp cơ sở là đại diện duy nhất của người lao động trong quan hệ lao động. Hai là, chưa đáp ứng được quyền hưởng sự bảo vệ thích đáng trước mọi hành vi phân biệt đối xử chống lại công đoàn trong việc làm của họ, nhất là về tài chính công đoàn. Luật Công đoàn Việt Nam quy định chủ sử dụng lao động phải đóng kinh phí công đoàn 2%, dù doanh nghiệp đó đã thành lập hay chưa thành lập công đoàn cơ sở. Ba là, chưa đáp ứng hoàn toàn quyền đình công của người lao động.
Pháp luật lao động quy định rộng về danh mục doanh nghiệp không được đình công (có thể làm hạn chế quyền đình công của người lao động); không cho phép đình công ngoài phạm vi doanh nghiệp (vi phạm quyền liên kết của các tổ chức của người lao động và quyền tổ chức, thương lượng tập thể). 123doc 7 Như vậy, điểm chưa tương thích mấu chốt của Việt Nam so với tiêu chuẩn lao động quốc tế là người lao động có quyền tự do thành lập và gia nhập tổ chức khác ngoài công đoàn theo hệ thống Công đoàn Việt Nam hiện nay. Cơ sở pháp lý về hoạt động của tổ chức công đoàn 1. Khái niệm về Công đoàn Hiến pháp là đạo luật quy định những điều căn bản, cốt lõi nhất về chế tổ chức quyền lực nhà nước, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, quyền con người, quyền công dân, v.
của một nước. Tùy vào điều kiện, đặc điểm mỗi quốc gia, trong mỗi giai đoạn mà có những vấn đề cốt lõi khác nhau được quy định trong Hiến pháp. Song bao trùm nhất đó là vấn đề tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, vấn đề xác định và phân phối lợi ích xã hội. Tham khảo Hiến pháp của một số nước cho thấy, do đặc điểm và điều kiện chinh trị, kinh tế – xã hội khác nhau nên Hiến pháp các nước trên thế giới quy định về công đoàn cũng khác nhau.
Do có sự đặc thù khác nhau, cũng có nhiều nước không có các quy định hoặc chỉ quy định ở mức tổng quát, như Hiến pháp nước Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Liên bang Úc, Cộng hòa Nam Phi hoặc Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Tuy nhiên, phần lớn các nước, nhất là các nước có quan hệ lao động phát triển, thường quy định về ba quyền cốt lõi liên quan đến hoạt động công đoàn, nhưng dành cho người lao động, đó là: quyền công đoàn, quyền tổ chức, quyền thương lượng tập thể và hành động tập thể – chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau và được coi là những quyền tự thân, tự nhiên vốn có của người con người, của người lao động. Trong đó, quyền công đoàn, quyền tổ chức là cơ sở, quyền thương lượng tập thể và hành động tập thể là công cụ tạo sức mạnh để người lao động bảo đảm quyền lợi của mình; không những thế, nó còn là công cụ quan trọng nhất để người lao động nâng cao quyền lợi của mình. Đây cũng chính là tinh thần chủ yếu được nêu trong những công ước cơ bản của Tổ chức Lao động quốc tế, như: Công ước số 87 và 98 về tự do hội đoàn, quyền tổ chức và thương lượng tập thể.
3 Cũng như hầu hết các nước trên toàn thế giới, hoạt động công đoàn ở Việt Nam được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn là trong xã hội Việt Nam, tổ chức công đoàn không chỉ là một tổ chức xã hội - quần chúng thông thường mà còn là một tổ chức chính trị - xã hội. Công đoàn có một vị trí quan 3 Báo cáo nghiên cứu “So sánh quy định Hiến pháp của một số quốc gia về quyền công dân trong lĩnh vực lao động và công đoàn” của Viện Công nhân - Công đoàn. 123doc 8 trọng trong xã hội, không chỉ đại diện cho lực lượng tự mình (bản thân tổ chức công đoàn, bản thân đoàn viên) mà còn bảo vệ lợi ích cho người lao động cũng như đại diện cho người lao động tham gia quản lý kinh tế, quản lý xã hội.
Vì vậy, Hiến pháp năm 2013, Luật Công Đoàn năm 2012, Bộ Luật lao động năm 2012 và các văn bản khác của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận và khẳng định địa vị pháp lý, vai trò của tổ chức và hoạt động công đoàn ở Việt Nam. Theo Hiến pháp 2013 “Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”4.