CHƯƠNG I ĐẶC ĐIỂM CỦA BÊ TÔNG ĐẦM LĂN. Khái niệm chung về bê tông đầm lăn (BT ĐL) Bê tông đầm lăn là loại bê tông sử dụng các nguyên vật liệu tương tự như bê tông thông thường, cũng là vật liệu cát, cốt liệu, vật liệu dính kết, nước và bọt khí trong khe rỗng tạo thành những tỉ lệ tổ hợp so với bê tông thông thường có sự khác biệt lớn. Khác với bê tông thông thường được đầm chặt bằng thiết bị rung đưa vào trong khối đổ. Bê tông đầm lăn được làm chặt bằng thiết bị rung từ mặt ngoài.
Việc đầm lên bê tông bằng lu rung cho phép sử dụng hỗn hợp bê tông khô, ít chất kết dính hơn so với bê tông thông thường nhờ vậy với một số đập đường thi công bê tông bằng công nghệ này nhanh hơn và rẻ hơn so với công nghệ thi công bê tông thông thường. Công nghệ BTĐL áp dụng cho thi công đường giao thông so với công nghệ thi công thông thường có các ưu điểm như, phương pháp thi công không phức tạp, lượng dùng xi măng thấp, có thể sử dụng một số sản phẩm phụ hoặc phế thải công nghiệp giúp hạ giá thành vật liệu so với bê tông xi măng thông thường, tốc độ thi công nhanh. Công nghệ BTĐL đặc biệt hiệu quả khi áp dụng cho xây dựng đập bê tông trọng lực. Khối lượng bê tông được thi công càng lớn thì hiệu quả áp dụng công nghệ bê tông đầm lăn càng cao.
Việc lựa chọn phương án thi công đập bằng công nghệ thường đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với đập bê tông thường và đập đất đắp bởi các lí do sau. Thi công nhanh so với đập bê tông thường, đập BTĐL được thi công với tốc độ cao hơn do có thể dùng băng tải để vận chuyển bê tông, dùng máy ủi để san gạt, máy lu rung để đầm lèn và ít phải chờ khối đổ hạ nhiệt. So với đập đất đắp có cùng chiều cao, thể tích của đập BTĐL nhỏ hơn nên thi công nhanh hơn. Công trình đập càng cao, hiệu quả kinh tế của đập BTĐL càng lớn so với đập đất đắp.
Giá thành hạ theo các tính toán tổng kết từ các công trình đã xây dựng trên Thế giới, giá thành đập BTĐL rẻ hơn so với đập bê tông thi công bằng công nghệ LuËn v¨n th¹c sÜ kü thuËt Bïi Ngäc ChiÕn 4 truyền thống từ 25% đến 40%. Việc hạ giá thành đạt được là do giảm được chi phí cốp pha, giảm chi phí cho công tác vận chuyển, đổ, đầm bê tông. Giảm chi phí cho các kết cấu phụ trợ so với đập đắp, chi phí làm cửa tràn của đập BTĐL rẻ hơn (tương tự như đập bê tông thường). Đối với đập thuỷ điện được thiết kế có nhiều cửa nhận nước ở nhiều cao trình khác nhau thì phương án đập BTĐL càng rẻ hơn so với phương án đập đắp.
Hơn nữa khi làm đập BTĐL chiều dài của kênh xả nước ngắn hơn so với kênh xả nước của đập đắp và vì vậy giảm chi phí làm bản đáy và chi phí xử lí nền đập. Giảm chi phí cho biện pháp thi công việc thi công đập bằng BTĐL có thể giảm chi phí dẫn dòng trong thời gian xây dựng và giảm các thiệt hại, các rủi ro khi nước lũ tràn qua đê quai. Đối với đập BTĐL, đường ống dẫn dòng ngắn hơn ống dẫn dòng của đập đắp. Hơn nữa thời gian thi công đập BTĐL ngắn nên các cống dẫn dòng cho đập BTĐL chỉ cần thiết kế để đáp ứng lưu lượng xả nước lớn nhất theo mùa thay vì lưu lượng lớn nhất theo năm như đối với đập bê tông và đập đắp.
Vì vậy đường kính cống dẫn dòng của đập bê tông đầm lăn nhỏ hơn và chiều cao đê quai cho đập bê tông đầm lăn cũng thấp hơn so với phương án đập bê tông thường và đập đắp. Tình hình sử dụng bê tông đầm lăn trong nước và thế giới 1. Tình hình sử dụng bê tông đầm lăn trên thế giới Về xây dựng đập trọng lực, tính đến 2005, toàn thế giới đã xây dựng được trên dưới 300 đập BTĐL với khối lượng tổng cộng khoảng trên 90 triệu m3 BTĐL. P P Hiện Trung Quốc là quốc gia đang dẫn đầu về số lượng đập BTĐL sau đó là Hoa Kỳ, Nhật Bản và Tây Ban Nha.
LuËn v¨n th¹c sÜ kü thuËt Bïi Ngäc ChiÕn 5 Bảng 1.1 Số lượng đập BTĐL tại một số nước trên thế giới Tên Số Thể Tỷ lệ Tỷ lệ Tên Số Thể Tỷ lệ Tỷ lệ Quốc đập tích theo theo Quốc đập tích theo theo Gia đã BTĐL S.lượng Khối Gia đã BTĐL S.lượng Khối xây 103 m3 % lượng xây 103 m3 P P% P lượng dựng dựng P P P % % Châu á Châu Âu T.81 Nam Mỹ Châu Phi Argentina 1 590 0.51 Bắc Mỹ Châu úc Canada 2 622 0.712 trên TG LuËn v¨n th¹c sÜ kü thuËt Bïi Ngäc ChiÕn 6 Hình 1.1 Tỷ lệ áp dụng BTĐL theo các hướng khác nhau trên thế giới Từ khi ra đời cho đến nay, việc xây dựng đập BTĐL đã và đang phát triển theo các hướng chính. Bê tông đầm lăn nghèo chất kết dính (CKD) (hàm lượng CKD < 99kg/m3) do USACE - Mỹ phát triển dựa trên công nghệ thi công đất đắp. P P Bê tông đầm lăn có lượng CKD trung bình (hàm lượng CKD từ 100 đến 149 kg/m3). P P Bê tông đầm lăn giàu CKD (hàm lượng CKD > 150 kg/m3) được phát P P triển ở Anh.
Việc thiết kế thành phần BTĐL được cải tiến từ bê tông thường và việc thi công dựa vào công nghệ thi công đập đất đắp. Ngoài ra còn một hướng phát triển đập BTĐL khác đó là hướng phát triển RCD của Nhật bản (Japannese Roller Compacted Dams), chuyển từ đập trọng lực bê tông thường sang sử dụng BTĐL. Theo hướng này BTĐL có lượng CKD nằm giữa loại bê tông đầm lăn có lượng CKD trung bình và loại bê tông đầm lăn có lượng CKD cao. Sau hơn 30 năm ứng dụng trên thế giới, công nghệ xây dựng đập BTĐL liên tục được cải tiến cả về vật liệu chế tạo và kỹ thuật thi công.
Cho tới nay, đập bê tông đầm lăn được thi công xây dựng ở nhiều nước thế giới , ở nơi có nhiệt độ môi trường từ rất thấp cho đến rất cao và có thể trong cả những vùng thường xuyên có mưa lớn. LuËn v¨n th¹c sÜ kü thuËt Bïi Ngäc ChiÕn 7 Trước đây, đập BTĐL sử dụng BTĐL nghèo CKD được sử dụng tại một số đập có chiều cao dưới 60m ở Mỹ. Ngày nay, các đập BTĐL được xây dựng trên thế giới chủ yếu sử dụng BTĐL có lượng CKD trung bình và giàu CKD như các nước Tây âu, Trung Quốc, Nhật Bản. Ngoài việc ứng dụng cho đập, BTĐL cũng được ứng dụng trong xây dựng mặt đường và sân bải.
BTĐL cho mặt đường lần đầu tiên được áp dụng ở Canada vào năm 1976 tại Caycuse trên đảo Vancouver với diện tích tổng cộng 36. P P Cho tới nay, hàng chục triệu m2 đường và sân bải được xây dựng bằng công nghệ P P BTĐL ở các nước Mỹ, Nhật và một số nước khác. Các công trình mặt đường và sân bải bằng BTĐL đều cho hiệu quả sử dụng tốt và giảm chi phí bảo dưỡng. Ngoài việc áp dụng cho xây dựng đập, mặt đường và sân bải, BTĐL còn được áp dụng được cho các dạng kết cấu khác.
Năm 1986 cầu treo lớn nhất thế giới Akashi được khởi công xây dựng tại Nhật Bản. Cây cầu này nối liền đảo Honshu và đảo Shikoku với chiều dài nhịp giữa hai tháp chính 1960m. Đây là công trình đã ứng dụng nhiều công nghệ bê tông tiên tiến như bê tông tự lèn, bê tông đổ trong nước và bê tông đầm lăn. Móng trụ neo cáp của công trình này được thiết kế là bê tông trọng lực khối lớn.
Để thi công khối móng với khối tích khoảng 200.000m3 P P trong thời gian ngắn, công nghệ bê tông đầm lăn đã được lựa chọn áp dụng.2 Thi công đập BTĐL bằng Hình 1.3 Thi công sân bải bằng công xe lu rung nghệ BTĐL ( Beni-Haroun - Algeri) LuËn v¨n th¹c sÜ kü thuËt Bïi Ngäc ChiÕn 8 C¸p 84.5 Khung angke Th©n khung angke 38.5 Bª t«ng ®óc s½n Tuêng bª t«ng Bª t«ng ®Çm l¨n 83.4 Cấu tạo trụ neo cáp cầu treo Akashi Kaiyko-Nhật Bản Có thể thấy rằng những dạng kết cấu bê tông có hình dạng không phức tạp và không có cốt thép đều có thể thi công bằng công nghệ BTĐL. Khối đổ bê tông càng lớn, áp dụng công nghệ này càng hiệu quả. Triển vọng áp dụng bê tông đầm lăn ở Việt Nam Trong một vài năm trở lại đây, nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triển đáng kể nhờ có chính sánh mở cửa của Nhà nước. Nhiều công trình lớn đang được xây dựng để phát triển cơ sở hạ tầng như các công trình giao thông, thuỷ lợi, thuỷ điện.
Các dự án bê tông hoá đường nông thôn cần hàng ngàn km đường cần trải mặt. Bên cạnh đó, để đáp ứng nhu cầu phụ tải điện tăng cao trong giai đoạn 2005-2015, Tổng công ty điện lực Việt nam (EVN) đã lập các dự án xây dựng mới 32 nhà máy điện trong đó có 20 nhà máy thuỷ điện, từ năm 2003 EVN đã khởi công nhiều công trình thuỷ điện như thủy điện Avương (xây dựng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam) công suất lắp máy 170MW khởi công 8/2003, Pleikrông (Kontum) công suất lắp máy 100MW (khởi công 11/22003), Bản Vẽ (Nghệ An) công suất lắp máy 300MW (khởi công 2004), thuỷ điện Sơn La (Sơn La) với công suất lắp máy 2400MW (dự kiến khởi công trong năm 2005), thủy điện Bình Điền (Huế ) với công suất lắp máy 44 MW, thủy điện Hương Điền (Huế) với công suất lắp máy 55 MW. Vì các công trình này đều đòi hỏi thời gian thi công ngắn, năng suất thi công LuËn v¨n th¹c sÜ kü thuËt Bïi Ngäc ChiÕn 9 lớn hơn nhiều so với trước đây nên giải pháp xây dựng đập dâng bằng bê tông trọng lực thi công bằng công nghệ đầm lăn đã được đề nghị lựa chọn.