Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN DI ĐỘNG 1.1 Giới thiệu chương Sự phát triển nhanh chóng của dịch vụ số liệu mà IP đã đặt ra các yêu mới đối với công nghệ viễn thông di động. Thông tin di động thế hệ 2 mặc dù sử dụng công nghệ số nhưng là hệ thống băng hẹp và được xây dựng trên cơ chế chuyển mạch kênh nên không thể đáp ứng được dịch vụ mới này. Công nghệ truyền thông thế hệ thứ ba 3G (third-generation) là giúp tăng tốc độ truyền nhận dữ liệu cho hệ thống GSM bằng cách dùng kỹ thuật CDMA hoạt động ở băng tần rộng thay thế cho TDMA. Trong chương này sẽ nghiên cứu tổng quan về hệ thống thông tin di động và tìm hiểu về mạng di động 2G và mạng di động 3G.2 Giới thiệu tổng quan về hệ thống thông tin di động 1.1 Giới thiệu chung [5] 1.1 Các khái niệm cơ bản Hệ thống thông tin vô tuyến di động (Mobile Radio Communication) có nhiệm vụ kết nối đến hoặc từ các thuê bao di động (MS - Mobile subscriber) và các thuê bao này có thể di chuyển trong nhiều vùng địa lý khác nhau, nơi được gọi là vùng phục vụ di động (Mobile Service Location).
Việc trao đổi thông tin giữa thiết bị di động ME (ME - Mobile Equipment) và mạng di động (Mobile Radio Network) thông qua giao diện vô tuyến số (Digital Radio Interface). Tất cả vùng phục vụ của hệ thống thông tin di động vô tuyến được chia thành nhiều vùng phục vụ nhỏ, gọi là các tế bào vô tuyến (radio cell). Vì vậy Vũ Trọng Toàn – Cao học KTDT K20.1 Đại Học Giao Thông Vận Tải 2 mạng thông tin di động còn được gọi là mạng thông tin di động vô tuyến tế bào số (Digital Cellular Mobile Radio Network). Mỗi tế bào có một trạm gốc phụ trách (Base Station) và được điều khiển bởi hệ thống tổng đài di động sao cho thuê bao có thể vẫn duy trì được cuộc gọi một cách liên tục khi di chuyển giữa các tế bào.
Đây là một trong những điểm khác biệt chính của mạng thông tin di động với mạng điện thoại chuyển mạch công cộng PSTN (PSTN - Public Switched Telephone Network) - nơi mà các thuê bao đã được định vị cố định bởi đôi dây thuê bao (Telephone Surscriber Line) đưa đến từ tổng đài. Vùng phục vụ Giao diện vô tuyến số Tế bào vô tuyến BS MS BS Trạm gốc ME SIM Hệ thống tổng đài di động Thuê bao di động Thuê bao PSTN Mạng PSTN Kết nối đến các (hoặcISDN, Internet.) mạng dịch vụ khác Đôi dây thuê bao cố định Hình 1.1: Các khái niệm cơ bản về hệ thống thông tin di động Vũ Trọng Toàn – Cao học KTDT K20.1 Đại Học Giao Thông Vận Tải 3 Một điểm khác biệt cơ bản nữa so với mạng PSTN là thông tin xác định một thuê bao không được gắn liền với đường dây thuê bao mà lại nằm trong một thẻ vi mạch bán dẫn gọi là SIM card (Subscriber Identity Module) được cài vào thiết bị di động ME. Thẻ SIM này có bộ nhớ để lưu một số thông tin cố định và tạm thời rất cần để điều khiển được quá trình kết nối và duy trì các cuộc gọi. Như vậy một thuê bao di động MS phải là sự kết hợp giữa một thiết bị di động ME với một thể SIM.
Hệ thống tổng đài di động có thể kết nối đến mạng điện thoại PSTN và những mạng dịch vụ khác nên các thuê bao di động MS hoàn toàn có thể kết nối đến các thuê bao điện thoại cố định cũng như các thiết bị đầu cuối khác, như biểu diễn ở hình 1.2 Các ưu điểm của hệ thống thông tin di động Đặc tính có thể di động linh hoạt của các thuê bao di động MS chính là ưu điểm lớn nhất của hệ thống thông tin di động. Hệ thống thông tin di động là hoàn toàn số, chính đặc điểm này đem lại ưu điểm chất lượng của thông tin di động rất tốt, dễ thực hiện việc bảo mật thông tin, mở ra nhiều khả năng tích hợp nhiều dịch vụ phi thoại vào hệ thống. Đối với nhà cung cấp, khai thác mạng thì kiến trúc mạng thông tin di động có ưu điểm dễ triển khai và mở rộng mạng rất linh hoạt. Điều này tạo ra sự hiệu quả về đầu tư, doanh thu cao.3 Phân cấp dịch vụ Mạng thông tin di động cũng như bất cứ mạng thông tin nào khác đều cung cấp dịch vụ kết nối để truyền và nhận thông tin.
Tuy nhiên từ dịch vụ cơ bản này, người ta cũng đưa ra nhiều dạng dịch vụ bổ sung khác. Với mạng di động GSM (Global System for Mobile Communication) người ta có thể phân cấp thành 3 nhóm dịch vụ như biểu diễn ở hình 1. Vũ Trọng Toàn – Cao học KTDT K20.1 Đại Học Giao Thông Vận Tải 4 Dịch vụ bổ sung Supplementary Service Dịch vụ Dịch vụ viễn thông truyền tải Teleservice Bearer Service Hình 1.2: Phân cấp dịch vụ mạng thông tin di động - Dịch vụ truyền tải (Bearer Service) Các dịch vụ thuộc nhóm này là các dịch vụ truyền tải thông tin thuần tuý giữa các điểm truy nhập mạng (Network Access Point). Mạng thông tin di động lúc này đóng vai trò như mạng truyền dẫn, bởi vậy nó yêu cầu cần định nghĩa rõ các kiểu thông tin mà nó sẽ truyền tải như biểu diễn ở hình 1.
Thông số cần quan tâm cho các dịch vụ nhóm này là: + Tốc độ: 9600 hay 11200 bps. + Mode truyền: đồng bộ, dị bộ, đơn công, song công hay bán song công. + Phương thức chuyển mạch: chuyển mạch kênh, gói hay bản tin. ME Đầu cuối (Terminal) Mạng truyền dẫn Mạng di động và mạng đầu cuối Dịch vụ truyền tải (Bearer Service) Điểm truy nhập mạng Điểm truy nhập mạng (Network Access Point) (Network Access Point) Hình 1.3: Mô hình dịch vụ truyền tải (Bearer Service) Vũ Trọng Toàn – Cao học KTDT K20.1 Đại Học Giao Thông Vận Tải 5 - Dịch vụ viễn thông (Teleservice) Tính chất của các dịch vụ thuộc nhóm này không đơn thuần chỉ truyền tải thông tin mà còn yêu cầu giao thức và qui trình thiết lập kết nối giữa 2 trạm đầu cuối (Terminal), cũng có nghĩa là các tính chất và đặc tính của các trạm đầu cuối cần định nghĩa rõ ràng.
Với các dịch vụ nhóm này, khái niệm truy nhập người dùng (User Access) được sử dụng như biểu diễn ở hình 1. Một số dịch vụ nhóm này là các dịch vụ như: Dịch vụ thoại (Telephony), dịch vụ truyền văn bản (Fax service), dịch vụ truy nhập Internet, dịch vụ truyền bản tin ngắn SMS (Short Message Service), bản tin mở rộng EMS (Extended Message Service) và bản tin đa phương tiện MMS (Multimedia Message Service). ME Đầu cuối (Terminal) Mạng truyền dẫn Mạng di động và mạng đầu cuối Dịch vụ viễn thông (Teleservice) Truy nhập người dùng Truy nhập người dùng (User Access) (User Access) Hình 1.4: Mô hình dịch viễn thông (Teleservice) - Dịch vụ bổ sung (Teleservice) Hai nhóm dịch vụ nói trên thuộc về các dịch vụ cơ bản. Các dịch vụ bổ sung được xây dựng trên các dịch vụ cơ bản đó mà không hoạt động độc lập được.
Các dịch vụ bổ sung này thường mở rộng khả năng kiểm soát và điều khiển của người sử dụng đối với các dịch vụ thuộc 2 nhóm dịch vụ cơ bản. Vũ Trọng Toàn – Cao học KTDT K20.1 Đại Học Giao Thông Vận Tải 6 1.2 Cấu trúc chung của hệ thống thông tin di động [1] 1.1 Mô hình chung Cấu hình của hệ thống thông tin di động (viết tắt TTDĐ) nhìn chung thường bao gồm 3 thành phần như biểu diễn ở hình 1. BS MSC BS BS MSC MSC MS BS BS BS Hình 1.5: Cấu trúc chung mạng thông tin di động + Tổng đài chuyển mạch di động MSC (Mobile service Switching Center). + Trạm gốc BS (Base Station).
+ Các đầu cuối di động MS (Mobile Station hay Mobile Subscriber). Trong đó, trạm gốc sẽ là hệ thống trung gian chung chuyển thông tin giữa các đầu cuối di động và tổng đài chuyển mạch di động. Đầu cuối di động sẽ liên lạc với trạm gốc bằng việc sử dụng đường truyền vô tuyến và hoàn toàn song công (uplink và downlink). Đầu cuối di động và trạm gốc sử dụng tần số phát và thu riêng rẽ.
Tổng đài chuyển mạch di động được kết nối với trạm gốc bằng đường truyền PCM 30 hoặc qua hệ thống viba. Một tổng đài di động có thể kết nối đến nhiều trạm gốc. Phân bố các trạm gốc tạo nên vùng phục vụ. Việc thiết kế phân bố các trạm gốc là một trong những công việc quan trọng nhất trong qua trình triển khai mạng thông tin di động.
Vũ Trọng Toàn – Cao học KTDT K20.1 Đại Học Giao Thông Vận Tải 7 1.2 Tổng đài chuyển mạch di động MSC Tổng đài chuyển mạch di động liên kết mạng thông tin di động với hệ thống điện thoại chuyển mạch công cộng PSTN và hệ thống mạng dịch vụ khác. Chức năng chính của nó là đầu nối các thuê bao di động với nhau và với các thuê bao của PSTN. Tổng đài chuyển mạch di động cần phải có các chức năng khác với hệ thống chuyển mạch của PSTN như: - Chuyển giao (Hand-over) Do MS có thể di chuyển từ vùng BS này sang BS khác, vì vậy MSC phải có cơ chế báo hiệu để chuyển cuộc gọi này sang một kênh mới ở một khu vực tế bào mới mà không làm gián đoạn cuộc gọi. Phương pháp chung ở đây là bằng việc giám sát chất lượng tín hiệu (theo mức) của từng kênh thu được từ các trạm gốc khác, khi chất lượng tín hiệu bắt đầu giảm dưới mức quy định thì khu vực tế bào hiện tại sẽ chuyển tín hiệu báo hiệu cho MSC, tiếp đó MSC sẽ yêu cầu đo chất lượng tín hiệu của kênh đi tới trạm gốc bên cạnh để xác định xem vùng nào sẽ xử lý cuộc gọi và sau đó dựa vào kết quả này chọn ra vùng tối ưu.
Chuyển vùng cần tiến hành tại một thời điểm chính xác nếu không thì cuộc gọi di động có thể nhảy (ping pong) giữa các tế bào. - Đăng ký vị trí (Location Registration) và cập nhật vị trí (Location Update) Việc đăng ký vị trí là khi thuê bao di động di chuyển từ trạm nhà (Home - vùng đầu tiên đăng ký dịch vụ) đến vùng phục vụ khác, trạm nhà sẽ giúp trạm đến phát hiện ra thuê bao di động và hệ thống ở nhà sẽ lưu trữ lại các thông tin đăng ký để đầu nối cuộc gọi. Tất nhiên muốn làm được điều đó trước tiên các trạm phải có khả năng do tìm phát hiện các MS và cập nhật vị trí hiện tại của MS.