Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Ung dụng di truyền phân tử trong chọn tạo giống lợn Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển vượt bậc của ngành di truyền học phân tử đã hỗ trợ rất nhiều cho ngành di truyền học số lượng. Đặc biệt là sự phát triển của ngành công nghệ sinh học đã giúp giải mã trình tự bộ gen lợn khởi đầu năm 2005 (Nguyễn Hoàng Thịnh và ctv, 2019; Chen và ctv, 2005; Groeneveld ,2010) từ đó các nghiên cứu về sự liên kết gen đến tính trạng mong muốn được phát triển một cách nhanh chóng. Theo hệ dữ liệu genome của lợn hiện nay đã ghi nhận có hơn 3.000 marker di truyền phân tử.
Thông qua trình tự hệ gen của lợn, có thé phát hiện những marker phân tử chính liên quan đến năng suất sinh sản. Nhưng đến thời điểm này, các nhà nghiên cứu vẫn đang tìm kiếm những gen, những marker phân tử, giải thích mối liên quan đến tiềm năng di truyền với năng suất sinh san dé chọn loc các giống sản xuất theo định hướng mong muốn. Trong các chương trình giống lợn, việc cải tiến di truyền đã thé hiện vai trò quan trọng việc nâng cao hiệu quả sản xuất. Cũng giống như với các vật nuôi khác, thời gian đầu của cuộc cách mạng sinh học phân tử, bằng kỹ thuật PCR, các gen chính liên kết với các tính trạng năng suất sinh sản, sinh trưởng va chất lượng thịt ở lợn được quan tâm nghiên cứu, ứng dụng vào chon lọc cải tiến di truyền.
Gần đây, phương pháp chọn giống dựa vào hệ gen (genomic selection) đã thực sự trở thành cuộc cách mạng trong lĩnh vực di truyền giống lợn, đặc biệt đã đây nhanh tốc độ cải tiến di truyền đối với các tính trạng cần nhiều thời gian theo dõi (như sinh sản) hoặc rất khó khăn trong thu thập dif liệu trong thực tế (như các thành phan thân thịt và chất lượng thit). Hướng nghiên cứu tiếp cận các gen chính có mối liên kết chặt chẽ với các tính trạng năng suất bắt đầu ứng dụng vào chọn giống ngay từ những năm 90 của thế kỷ trước. Các công ty giống lợn đã dựa vào chi thị phân tử dé loại bỏ gen gây stress halothane (HAL) va gen chat lượng thịt kém (Napole - RN) ra khỏi dan giống. Gần đây, một số gen có liên kết chặt với các tính trạng sinh sản, hiệu quả sử dụng thức ăn, tốc độ sinh trưởng, dày mỡ lưng và chất lượng thịt xẻ đã được khám phá và có thé ứng dụng dé dang trong chọn giống với chi phí tương đối rẻ.
Chang han, gen MC4R, PIT-1, IGF1, GHRH, IGF2, HMGAI và CCKAR là các gen liên quan đến cải thiện tốc độ sinh trưởng, hiệu quả chuyển hóa thức ăn và tỷ lệ nạc; hay gen H-FABP, PRKAG3 và CAST liên quan đến cải tiến chất lượng thịt; gen ESR, FSHB, PRLR, EPOR liên quan đến năng suất của các 6 đẻ; gen PRRS liên quan đến hội chứng hô hấp và sinh sản (bệnh tai xanh). Đối với các tính trạng sinh sản, cho đến nay đã có nhiều gen liên kết chặt chẽ đến các tính trạng sinh sản đã được áp dụng dé chọn lọc. Những nghiên cứu đầu tiên về gen ESR ở lợn bản địa Trung Quốc đó là lợn Meishan lai (Rothschild và ctv, 1998). Alen tốt có ảnh hưởng cộng gộp tích cực đến tổng số con đẻ ra và số con sơ sinh sống/ô ở các nhóm lợn này.
Sau đó một số nghiên cứu tiếp theo cũng chỉ ra ảnh hưởng gen này đến các tính trạng sinh sản, dao động từ 1,25 con/6 ở nhóm Meishan lai đến 0,06 con/6 ở nhóm Large White thuan (Rothschild va ctv, 1998; Short va ctv, 1997). Một gen khác liên quan đến kha năng nuôi con của lon nai va phát triển tuyến vú (Farmer và ctv, 2000), đó là gen thụ thể prolactin (PRLR). Vincent và ctv, (1998) da bao cáo kết quả khám phá ra sự đa hình trong gen PRLR có liên kết, lam tăng 0,10 - 0,51 con đẻ ra/ố ở giống Large White, Meishan và Landrace. Đối với gen RBP4 (Retinol Binding Protein 4), đây là một ứng cử gen có chứa alen ảnh hưởng tích cực, làm tăng 0,52 con/ô ở dan Large White chọn lọc theo hướng sinh sản và 0,45 con/6 ở đàn đối chứng (Ollivier va ctv, 1997).
Ngoài ra, gen FSHB cũng được nhiều tác gia quan tâm nghiên cứu vì nó có liên quan đến hormone kích thích nang trứng ở động vật có vú. Zhao va ctv, (1999) đã báo cáo rằng những con nai mang kiểu gen AA cho năng suất trung bình cao hơn 2,53 con so với những con nái mang kiểu gen BB đối với tính trạng số con đẻ ra/ô ở lứa đẻ thứ nhất và 2,12 con đối với tinh trạng số con sơ sinh sống ở giống lợn Landrace va Yorkshire. Trong tương lai gần, với tốc độ phát triển của các công cụ đi truyền phân tử thì những nghiên cứu, phân tích xa hơn đối với gen ứng cử sẽ là rất cần thiết để có câu trả lời chính xác về mối tương quan của những marker phân tử đến tính trạng quan tâm. Những ứng dụng di truyền phân tử vào trong chương trình chọn giống hiện nay nên kết hợp cả những cơ sở đữ liệu kiểu hình để đánh giá được toàn điện mối tương quan của các gen ứng cử với các tính trạng sản xuất.
Ảnh hưởng của gen FSHB đến sinh sản ở lợn Về cấu trúc phân tử, gen FSHBở trên lợn có kích thước khoảng 10000bp nằm trên cặp nhiễm sắc thể số 2. Cấu trúc của gen FSHB giống với các gen khác: gồm 2 vùng 5’ và 3’ Flanking region nằm lần lượt 2 đầu 5’ và 3’ của vùng gen mã hóa. Trong đó, 2 vùng 5’ và 3’ Flanking region có vai trò quan trọng trong việc điều hòa quá trình phiên mã gen FSHB. Cả 2 vùng này đều chứa các vùng trình tự có tác dụng ức chế hay tăng cường biéu hiện quá trình phiên mã, ngoài ra vùng 5’ flanking region còn chứa vùng trình tự promoter có tac dụng kích hoạt quá trình phiên mã (Hình 1).4 [ 30040342 > (31111428 > HPPE02 FSHE 4 KCNAS L0C110259282 ARLI4EP Regulatory sequence Regulatory sequence — Enhancer Enhancer /silencer Promoter S’UTR Open reading frame 3’UTR /silencer —_—— SS.
Proximal Core Start Stop Terminator + >< >4—————>* 5” Flanking region Exon + intron = 3-4kb 3’ Flanking region Hình 1. Vị trí và cau trúc FSHB trên NST số 2 (Shafee va ctv, 2017) Vùng gen mã hóa FSHB trên lợn, dài khoảng 3-4kbp. Và tương tự trên người và bò, gen FSHB trên lợn gồm 2 vùng intron nằm giữa 3 exon (Hình 1. Exon Exon Exon + —=EEEE— W22EE—Em.
a ————————I Intron Intron SƯ 4 2 3 #UTR Hình 1. Vùng gen mã hóa trên FSHB (Shafee và ctv, 2017) Về chức năng, gen FSH nói riêng và con đường truyền tín hiệu FSH nói chung, có vai trò quan trọng trong quá trình sinh sản của động vật. Ở con cái, FSH có tác dụng kích thích sự phát triển của nang trứng. Ngoài ra, FSH còn phối hợp với LH kích thích nang trứng tiết ra một hormone sinh dục là oestrogen cũng như thúc đây sự chín của bao noãn và làm rụng trứng (Trịnh Hữu Hằng và ctv, 2007).
Ở con đực, FSH có tác dụng kích thích sự phát triển của ống sinh tinh, tăng trọng lượng tinh hoàn, duy tri sự sinh tinh nhưng không kích thích tăng tiết hormone sinh dục (Trịnh Hữu Hang và ctv, 2007). Về ảnh hưởng của gen FSHB đến khả năng sinh sản của lợn, nghiên cứu trên bốn giống lon Yorkshire, Landrace, Erhualin và giống lợn mini Trung quốc, Zhao và ctv, (1998) đã báo cáo kết quả ảnh hưởng của gen FSHB lên khả năng sinh sản, trong đó nhóm lợn nai có kiểu gen AA đã có số con sơ sinh sông 6 đẻ lớn hơn 1,5 con so với nhóm lợn nái có kiểu gen BB. Ở giống lợn Large White của Cộng hòa Séc, Humpolicek và ctv (2007) cho biết ảnh hưởng của 2 gen ESR/ và FSHB lên khả năng sinh sản từ lứa đẻ thứ nhất đến lứa đẻ thứ tư, cho thấy kiểu gen BB của gen FSHB làm tăng số con sơ sinh/6, số con séng/6 và số con cai sữa/ô. Cũng nghiên cứu trên 3 gen ESR1, FSHB và RBP4 lên kích thước 6 đẻ ở hai giống Large White và Landrace, Wang và ctv, (2006, 2013) đã cho thấy có sự tương tác giữa các gen này với nhau và ảnh hưởng lên số con sơ sinh/6 ở lứa đẻ thứ nhất, thứ hai và lứa thứ ba trở về sau.
Một nghiên cứu khác trên 3 gen ESR, FSHB và MYOG có ảnh hưởng đến tuổi thụ thai lan đâu; sô con sơ sinh/6; sô con sơ sinh song/6; khôi lượng cai sữa; tang khôi lượng, tỷ lệ thịt xẻ, day mỡ lưng của giống lợn Large White, trong khi đó gen ESR và FSHB có ảnh hưởng rõ rệt lên Số con sơ sinh/ô (Humpolicek và ctv, 2007). Vì vậy, tác giả đề nghị có thé sử dụng các gen này trong công tác chọn giống lon nai Large White. Tiếp tục sử dụng quan thé lợn Lagre White ở Cộng hòa Séc, Humpolicek và ctv (2009) đã nghiên cứu sự tương tác giữa gen ESR với gen FSHB và MYOG đối với kha năng sinh san và sinh trưởng của giống lợn nay ở các quan thé nhỏ. Kết quả chưa thấy sự tương tác rõ ràng giữa các gen sử dụng nghiên cứu.
Vì vậy, tác giả đề nghị trên những quần thé nhỏ lợn nai, chỉ sử dụng các gen nay dé đồng chọn lọc lợn nai giống khi thấy rõ sự tương tác, hỗ trợ lẫn nhau giữa các gen này. Tại Thái Lan, Nakarin và Supamit (2012) nghiên cứu tinh đa hình nucleotide (SNP) trên gen FSHB ảnh hưởng lên tính trạng sinh sản của 1.155 con lợn nai lai giữa lợn Đại Bạch và Landrace. Kết quả phân tích trên 4.162 lứa đẻ của những lợn nái lai này cho thấy các đa hình gen FSHB/Hael/// có ảnh hưởng đến số con sơ sinh/6 cũng như số con séng/6, vì vậy có thể sử dụng như chỉ thị phân tử trong chương trình chọn giống lợn nái bố mẹ sản xuất lợn thương phẩm. Khả năng di truyền của tính trạng sản xuất ở lợn 1.
Hệ số di truyền của các tính trạng sản xuất ở lợn Khả năng di truyền của tính trạng thường được đo lường dựa trên các hệ số di truyền ước tính từ dữ liệu kiểu hình của tính trạng. Trong các chương trình đánh giá di truyền, cải tiến chất lượng giống lợn, các tính trạng sản xuất được quan tâm nhiều nhất bao gồm số con sơ sinh sống/ô, số con cai sữa/ô, khối lượng cai sữa/ô hoặc khối lượng 21 ngày tudi/6, tăng khối lượng bình quân/ngày hoặc tuổi đạt khối lượng xuất bán, tiêu tốn thức ăn, độ đày mỡ lưng và một số tính trạng chất lượng thịt khác.