Tổng quan nghiên cứu

Bán đảo Thanh Đa với diện tích tự nhiên 638 hectare, thuộc địa bàn phường 26 và phường 27 quận Bình Thạnh, là khu vực đô thị chịu áp lực ngập lụt và sạt lở bờ sông nghiêm trọng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hình thái dòng chảy uốn khúc dài 15.400 m của sông Sài Gòn bao quanh bán đảo, kết hợp với tuyến kênh tắt Thanh Đa dài 1.630 m, tạo nên một chế độ thủy động lực học phức tạp dưới tác động của bán nhật triều không đều với biên độ triều dao động đến 2,61 m. Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu là làm rõ quy luật phân bố vận tốc, biến thiên mực nước và tỷ lệ phân lưu dòng chảy giữa sông chính và kênh tắt nhằm phục vụ công tác chỉnh trị bờ sông.

Mục tiêu cụ thể của đề tài là ứng dụng phần mềm mã nguồn mở TELEMAC 2D để xây dựng mô hình toán số hai chiều ngang (2DH), mô phỏng trường thủy lực đoạn sông Sài Gòn từ sông Vàm Thuật đến cầu Sài Gòn. Đồng thời, nghiên cứu phát triển mô hình bán thực nghiệm để tính toán thành phần vận tốc theo phương đứng dựa trên hai thành phần vận tốc trung bình ngang từ mô hình phẳng. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp bộ công cụ mô phỏng chính xác cao với 19.369 điểm đo độ sâu thực địa, hỗ trợ nâng cao độ tin cậy dự báo dòng chảy đạt trên 92%, góp phần bảo vệ an toàn bờ sông và giảm thiểu thiệt hại kinh tế do xói lở gây ra cho khu vực bán đảo Thanh Đa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên hệ phương trình Navier-Stokes cho chất lưu không nén được và hệ phương trình Reynolds trung bình thời gian (RANS) nhằm mô tả chuyển động dòng chảy rối. Đoạn sông nghiên cứu có chiều rộng từ 200 m đến 250 m nhưng độ sâu chỉ dao động từ 10 m đến 23 m, thỏa mãn điều kiện dòng chảy nước nông. Do đó, hệ phương trình Saint-Venant 2DH được thiết lập bằng cách tích phân hệ phương trình nước nông ba chiều theo phương thẳng đứng với giả thiết áp suất phân bố theo quy luật thủy tĩnh.

Mô hình khảo sát 4 phương pháp tính toán hệ số nhớt rối: mô hình hằng số với hệ số mặc định 0,0001 m²/s, mô hình khuếch tán Elder dựa trên vận tốc ma sát đáy, mô hình hai phương trình vi phân K-epsilon giải phóng quá trình vận chuyển và tiêu tán năng lượng rối, cùng mô hình Smagorinsky có xét đến kích thước ô lưới. Các khái niệm cốt lõi bao gồm vận tốc ma sát đáy, số Froude biểu diễn trạng thái chảy, ten-sơ tốc độ biến dạng và ứng suất Reynolds đóng vai trò then chốt trong việc khép kín hệ phương trình thủy lực.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu địa hình đáy sông được xây dựng từ 19.369 điểm đo độ sâu hồi âm bằng thiết bị ADCP với khoảng cách đo 1 m dọc trắc ngang. Chuỗi dữ liệu thủy văn 24 giờ liên tục từ ngày 10 đến ngày 11 tháng 9 năm 2011 được sử dụng để xác lập biên động lực, ghi nhận lưu lượng đỉnh triều xuống đạt 2.420 m³/s và đỉnh triều lên đạt -2.751 m³/s. Đặc trưng địa chất bờ sông được tổng hợp từ 17 hố khoan khảo sát tại hiện trường.

Về phương pháp chọn mẫu không gian, miền tính toán được chia thành mạng lưới phần tử hữu hạn tam giác phi cấu trúc gồm 1.675 nút và 2.896 phần tử. Trong đó, kênh Thanh Đa gồm 278 nút và 472 phần tử (kích thước lưới 20 m đến 40 m), sông Sài Gòn gồm 1.397 nút và 2.424 phần tử (kích thước lưới 40 m đến 80 m). Phương pháp phần tử hữu hạn kết hợp phương pháp chiếu trên sơ đồ ẩn được lựa chọn nhờ khả năng mô tả chính xác đường bờ cong uốn lượn và tính ổn định số học cao. Mô hình vận hành với bước thời gian 5 giây và chạy liên tục trong 5 ngày nhằm triệt tiêu hoàn toàn sai số điều kiện ban đầu trước khi phân tích kết quả ở chu kỳ ngày thứ năm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Mô phỏng thủy lực ghi nhận sự biến động lớn về lưu tốc dòng chảy theo các pha triều. Lưu tốc trung bình mặt cắt đạt giá trị cực đại 0,88 m/s vào lúc 21 giờ ngày 10 tháng 9 khi triều rút, và đạt -0,72 m/s vào lúc 2 giờ ngày 11 tháng 9 khi triều dâng. Vận tốc dòng chảy trong lòng kênh Thanh Đa cao hơn từ 15% đến 20% so với vận tốc trên nhánh sông chính uốn quanh bán đảo.

Kênh Thanh Đa đóng vai trò là tuyến phân lưu chủ lực khi gánh khoảng 30% đến 35% tổng lưu lượng toàn hệ thống, giúp giảm đáng kể áp lực lưu lượng cho đoạn sông dài 15,4 km. Trong 4 mô hình rối được thử nghiệm với cùng hệ số nhám Manning n = 0,025, mô hình K-epsilon cho kết quả mực nước và lưu tốc bám sát số liệu đo đạc thực tế nhất tại 4 vị trí kiểm chuẩn (TL701, SC579, HL869, TD1500), khống chế sai số dưới 8%. Đồng thời, giá trị số Froude trên toàn tuyến luôn duy trì dưới 0,25, chứng minh dòng chảy hoàn toàn ở trạng thái chảy êm trong suốt chu kỳ triều.

Thảo luận kết quả

Phân tích trường vận tốc ma sát đáy và biểu đồ vector dòng chảy 2D tại các thời điểm 13 giờ và 19 giờ cho thấy vùng tập trung năng lượng cao nhất nằm ở bờ lõm đoạn sông cong SC579 và hai đầu cửa kênh Thanh Đa. Sự kết hợp giữa lưu tốc dòng chảy lớn vượt 0,85 m/s và cấu trúc địa chất gồm lớp bùn sét hữu cơ yếu dày 15 m đến 29 m có lực dính kết chỉ 0,1 kG/cm² cùng góc ma sát trong 4°23' là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hiện tượng trượt lở bờ sông nghiêm trọng.

Dữ liệu mô phỏng được trực quan hóa qua biểu đồ đường quá trình mực nước theo thời gian và bản đồ bình đồ lưu tốc, làm rõ tác động của các xoáy cuộn thứ cấp tại khúc quanh bán đảo. Mô hình phân bố vận tốc đứng theo quy luật logarit phát triển từ kết quả 2DH có hệ số tương quan đạt trên 91% khi so sánh với số liệu đo trắc diện thẳng đứng của ADCP. Kết quả này chứng minh tính khả thi của giải pháp mở rộng 2DH sang trường vận tốc đứng mà không cần sử dụng mô hình 3D phức tạp vốn đòi hỏi tài nguyên tính toán rất lớn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thi công gia cố kè bảo vệ bờ kết hợp thảm đá phản áp tại bờ lõm đoạn sông cong SC579 và hai cửa vào kênh Thanh Đa, nơi ghi nhận vận tốc ma sát đáy vượt 0,04 m/s. Mục tiêu giảm thiểu 85% nguy cơ sạt lở bờ sông trong giai đoạn 2024–2026, do Sở Giao thông Vận tải phối hợp cùng Chi cục Thủy lợi Thành phố Hồ Chí Minh chủ trì thực hiện.

Thứ hai, tích hợp module SISYPHE vào mô hình TELEMAC 2D hiện hữu nhằm tự động hóa quy trình tính toán chuyển tải bùn cát và biến hình lòng dẫn định kỳ 6 tháng một lần. Mục tiêu nâng cao độ chính xác dự báo xói bồi đạt 95% trước quý IV năm 2025, giao Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam cùng Trường Đại học Bách Khoa ĐHQG-HCM phụ trách kỹ thuật.

Thứ ba, thiết lập hệ thống quan trắc tự động liên tục bằng công nghệ sóng siêu âm ADCP tại 4 điểm kiểm soát trọng yếu (TL701, SC579, HL869, TD1500). Mục tiêu truyền tải dữ liệu mực nước và lưu lượng thời gian thực mỗi 15 phút về trung tâm điều hành, hoàn thành lắp đặt trong năm 2025 dưới sự quản lý của Trung tâm Quản lý Đường thủy.

Thứ tư, thực hiện nạo vét duy trì cao trình đáy kênh Thanh Đa ổn định ở mức -10 m đến -11 m và chiều rộng lòng kênh từ 70 m đến 90 m. Giải pháp nhằm tối ưu hóa khả năng thoát 35% lưu lượng triều, giảm áp lực ngập lụt cho 638 hectare bán đảo Thanh Đa trước năm 2027, do Ban Quản lý Dự án Đầu tư Xây dựng Hạ tầng Đô thị chỉ đạo triển khai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các kỹ sư công trình thủy và chuyên gia chỉnh trị sông: Luận văn cung cấp quy trình tạo lưới tam giác phi cấu trúc chi tiết từ 19.369 điểm đo độ sâu và phương pháp xác định hệ số nhám n = 0,025 trên mô hình TELEMAC 2D cho các lưu vực sông uốn khúc.

Thứ hai, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Kỹ thuật Tài nguyên nước: Tài liệu là nguồn tham khảo học thuật về việc áp dụng mô hình rối K-epsilon trong hệ phương trình Saint-Venant 2DH và phương pháp chuyển đổi vận tốc trung bình ngang sang phân bố vận tốc đứng theo quy luật logarit.

Thứ ba, các cơ quan quản lý đô thị và quy hoạch hạ tầng: Cung cấp cơ sở khoa học định lượng về chế độ thủy lực trên 15,4 km sông Sài Gòn, phục vụ trực tiếp cho công tác lập quy hoạch đê kè và chiến lược thích ứng biến đổi khí hậu tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Thứ tư, các đơn vị tư vấn thiết kế đê kè ven sông: Khai thác số liệu địa chất 3 tầng đất cùng trường lưu tốc cực đại 0,88 m/s để tính toán kết cấu ổn định bờ kè trên nền bùn sét yếu.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình TELEMAC 2D có ưu thế gì so với mô hình 1D và 3D trong nghiên cứu này? Mô hình TELEMAC 2D sử dụng lưới tam giác phi cấu trúc với kích thước 20 m đến 80 m, mô tả chính xác hình thái bờ cong và trường lưu tốc hai chiều mà mô hình 1D không thể thực hiện. Đồng thời, mô hình tiết kiệm hơn 70% thời gian tính toán so với mô hình 3D nhưng vẫn đạt độ tin cậy trên 92% trong điều kiện dòng chảy nước nông.

Vì sao mô hình rối K-epsilon lại cho kết quả tối ưu nhất trong các mô hình thử nghiệm? Mô hình K-epsilon giải hai phương trình vi phân riêng biệt cho động năng rối K và tốc độ tiêu tán rối, mô phỏng chính xác sự khuếch tán động lượng tại các khúc uốn cong SC579. Kết quả kiểm chứng tại 4 trạm cho thấy sai số mô phỏng mực nước của mô hình này giảm xuống dưới 8%, vượt trội so với mô hình hằng số và Elder.

Dữ liệu địa hình và thủy văn phục vụ mô phỏng được thu thập như thế nào? Nghiên cứu sử dụng 19.369 điểm đo độ sâu trắc ngang cách nhau 1 m từ thiết bị đo sóng hồi âm ADCP để số hóa đáy sông. Dữ liệu thủy văn được quan trắc liên tục 24 giờ bao gồm lưu lượng đỉnh triều xuống 2.420 m³/s, đỉnh triều lên -2.751 m³/s, kết hợp số liệu từ 17 hố khoan địa chất hiện trường.

Địa chất tầng mặt ảnh hưởng như thế nào đến độ ổn định bờ sông bán đảo Thanh Đa? Khảo sát 17 hố khoan cho thấy lớp bùn sét hữu cơ mềm yếu dày từ 15 m đến 29 m nằm sát bề mặt, có độ ẩm 75%, lực dính kết 0,1 kG/cm² và góc ma sát trong 4°23'. Dưới tác động xói mòn của dòng triều đạt lưu tốc 0,88 m/s, bờ sông tại các khúc cong chịu rủi ro sạt lở và trượt trôi rất cao.

Phương pháp xác định vận tốc theo phương đứng từ kết quả 2DH có độ tin cậy ra sao? Thuật toán nội suy theo quy luật logarit được xây dựng từ vận tốc trung bình ngang và vận tốc ma sát đáy từ mô hình 2DH. Khi so khớp với trắc diện vận tốc thực tế đo bằng máy ADCP, độ tương quan đạt trên 91%, đáp ứng tốt các yêu cầu tính toán trượt đáy và ổn định bờ sông.

Kết luận

  • Ứng dụng thành công phần mềm mã nguồn mở TELEMAC 2D để mô phỏng chi tiết chế độ thủy động lực học trên 15,4 km sông Sài Gòn và 1,63 km kênh Thanh Đa.
  • Xây dựng mạng lưới phần tử hữu hạn phi cấu trúc chất lượng cao gồm 1.675 nút và 2.896 phần tử từ 19.369 điểm đo độ sâu ADCP.
  • Xác định mô hình rối K-epsilon với hệ số nhám n = 0,025 là phương án tối ưu, kiểm soát sai số tính toán mực nước và lưu tốc dưới 8%.
  • Làm rõ vai trò phân lưu 35% lưu lượng của kênh Thanh Đa và xác định nguyên nhân sạt lở bờ cong SC579 do lưu tốc đạt 0,88 m/s trên tầng bùn sét yếu dày 15 m đến 29 m.
  • Phát triển thành công mô hình bán thực nghiệm xác định profile vận tốc đứng với độ tương đồng đạt trên 91% so với số liệu ADCP thực đo.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là hoàn thiện quy trình ứng dụng mô hình 2DH mã nguồn mở và công thức nội suy vận tốc đứng trong bài toán sông ngòi vùng triều. Theo lộ trình giai đoạn 2024–2027, các đơn vị quản lý cần tiếp tục mở rộng mô hình sang tính toán chuyển tải bùn cát và bồi xói lòng dẫn. Các nhà quản lý đô thị và kỹ sư công trình thủy nên ứng dụng ngay kết quả mô phỏng số này để tối ưu hóa phương án quy hoạch bờ kè và công trình bảo vệ bờ sông bán đảo Thanh Đa.