Tổng quan nghiên cứu

Lưu vực sông Thạch Hãn là hệ thống sông lớn nhất tỉnh Quảng Trị với diện tích lưu vực đạt 2.660 km², chiếm khoảng 56% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Dòng chảy trung bình hàng năm của lưu vực đạt khoảng 3,92 tỷ m³, tương ứng mô-đun dòng chảy năm bình quân 44,8 l/s/km² và lớp dòng chảy năm đạt 1.442,8 mm. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên nước phân bố rất bất đối xứng giữa các mùa. Mùa lũ chỉ kéo dài khoảng 4 tháng (từ tháng 8, 9 đến tháng 11, 12) nhưng tập trung từ 62,5% đến 80% tổng lượng dòng chảy cả năm, thường xuyên sinh ra lũ quét ở vùng núi dốc và ngập lụt nghiêm trọng tại hạ du. Ngược lại, mùa kiệt kéo dài tới 8 tháng nhưng chỉ chiếm từ 20% đến 37,5% tổng lượng nước năm, gây ra hạn hán gay gắt và xâm nhập mặn sâu vào nội đồng.

Vấn đề nghiên cứu then chốt xuất phát từ sự thiếu hụt nghiêm trọng dữ liệu quan trắc thủy văn liên tục trên dòng chính, khiến việc tính toán điều tiết nước và dự báo thủy văn gặp nhiều trở ngại. Trong khi đó, tác động kép từ biến đổi khí hậu toàn cầu và chuyển đổi mục đích sử dụng đất đang làm gia tăng tần suất các hiện tượng thời tiết cực đoan như trận lũ lịch sử tháng 11 năm 1999 làm 56 người chết và mất tích với thiệt hại hơn 300 tỷ đồng, hay đợt hạn hán năm 1998 làm mất trắng 16.898 ha lúa hè thu.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là nghiên cứu đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội lưu vực; thiết lập và chứng minh mức độ thích hợp của mô hình SWAT trong tính toán dòng chảy; từ đó mô phỏng, định lượng các biến đổi dòng chảy sông Thạch Hãn dưới tác động của các kịch bản biến đổi khí hậu (A2, B2) và kịch bản sử dụng đất giai đoạn 2020-2100. Phạm vi nghiên cứu tập trung trên toàn bộ mạng lưới sông Thạch Hãn thuộc địa bàn tỉnh Quảng Trị, sử dụng chuỗi số liệu nền khí tượng thủy văn giai đoạn 1977-2004. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, đóng vai trò là cơ sở khoa học tin cậy giúp các cơ quan quản lý tối ưu hóa quy hoạch nguồn nước, vận hành hồ chứa và chủ động giảm thiểu rủi ro thiên tai.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết cân bằng nước lưu vực toàn diện và lý thuyết mô hình hóa thủy văn phân bố bán cấu trúc của Arnold và các cộng sự (2002). Mô hình cân bằng nước mô phỏng vòng tuần hoàn thủy văn hàng ngày dựa trên phương trình bảo toàn khối lượng, bao gồm lượng mưa rơi, dòng chảy mặt, lượng thấm, sự bốc thoát hơi nước thực tế, dòng ngầm và dòng chảy ngầm tầng nông chảy vào sông suối.

Khung lý thuyết tính toán dòng chảy mặt trong mô hình áp dụng hai phương pháp cốt lõi: phương pháp số đường cong dòng chảy SCS-CN của Cục Bảo tồn Tài nguyên Đất Hoa Kỳ và phương pháp thấm Green & Ampt, giúp phản ánh chính xác phân phối độ ẩm đất theo chiều sâu tầng đất. Ba khái niệm chuyên ngành then chốt được vận hành xuyên suốt bao gồm: Đơn vị phản ứng thủy văn (Hydrologic Response Unit - HRU) đại diện cho sự kết hợp đồng nhất giữa loại đất, độ dốc và thảm phủ thực vật; Mô-đun dòng chảy năm (đạt chuẩn 44,8 l/s/km²); và Hệ số hiệu quả Nash-Sutcliffe (NSE) dùng để đánh giá mức độ hội tụ giữa đường quá trình lưu lượng tính toán với thực đo. Ngoài ra, nghiên cứu tích hợp hệ thống kịch bản phát thải khí nhà kính toàn cầu theo Báo cáo Đánh giá lần thứ tư của Ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) với hai kịch bản phát thải cao A2 và trung bình B2.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu không gian và thuộc tính phong phú, bao gồm mô hình số độ cao (DEM), bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và thảm phủ thực vật năm 2000 của tỉnh Quảng Trị. Chuỗi số liệu khí tượng thủy văn được thu thập đồng bộ từ 7 trạm đo trong lưu vực (trạm Đông Hà, Khe Sanh, Thạch Hãn, Cửa Việt, Ba Lòng, Tà Rụt và Rào Quán) với độ dài chuỗi quan trắc liên tục 27 năm từ năm 1977 đến năm 2004. Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm toàn bộ chuỗi số liệu ngày của thời kỳ chuẩn 1980-1999 (20 năm) phục vụ việc chạy mô hình nền và các chuỗi số liệu quan trắc phục vụ hiệu chỉnh, kiểm định. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu toàn bộ chuỗi quan trắc liên tục đại diện cho các chu kỳ khô hạn và mưa lũ lịch sử của vùng Bắc Trung Bộ.

Toàn bộ lưu vực sông Thạch Hãn được phân chia thành 4 tiểu lưu vực cơ sở và hàng chục đơn vị HRU để mô phỏng sự biến thiên không gian. Lý do lựa chọn mô hình SWAT làm công cụ phân tích chủ đạo vì đây là mô hình thủy văn bán phân bố có khả năng mô phỏng liên tục theo bước thời gian ngày đối với các lưu vực lớn có điều kiện tài liệu thủy văn thực đo hạn chế. SWAT cho phép tích hợp trực tiếp công nghệ GIS, mô tả chi tiết tương tác vật lý giữa khí quyển - thảm phủ - đất, đồng thời có thế mạnh vượt trội trong việc phân tách tác động độc lập cũng như cộng hưởng của biến đổi khí hậu và chuyển đổi sử dụng đất đến chế độ thủy văn tương lai.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã mang lại các phát hiện định lượng quan trọng về độ tin cậy của mô hình và xu thế biến đổi dòng chảy lưu vực sông Thạch Hãn:

Thứ nhất, mô hình SWAT thể hiện sự tương thích xuất sắc với điều kiện thủy văn địa phương. Kết quả đánh giá bằng chỉ tiêu Nash-Sutcliffe tại trạm thủy văn Gia Vòng đạt giá trị NSE bằng 0,713 trong giai đoạn hiệu chỉnh và đạt NSE bằng 0,730 trong giai đoạn kiểm định. Đường quá trình lưu lượng tính toán bám sát đường quá trình lưu lượng thực đo cả về lưu lượng đỉnh lũ lẫn lưu lượng dòng kiệt.

Thứ hai, tác động của biến đổi khí hậu làm gia tăng tính cực đoan của chế độ dòng chảy giai đoạn 2020-2100 so với thời kỳ nền 1980-1999. Theo kịch bản phát thải trung bình B2, dòng chảy trung bình tháng mùa lũ tăng từ 8,2% đến 14,6%, trong khi dòng chảy các tháng mùa kiệt có xu hướng suy giảm từ 5,4% đến 11,8%. Đối với kịch bản phát thải cao A2, sự biến động còn khốc liệt hơn khi dòng chảy mùa lũ tăng cực đại tới 16,5% vào tháng 10 và dòng kiệt tháng 3, tháng 4 giảm sâu hơn 13,5%.

Thứ ba, sự thay đổi thảm phủ thực vật tạo ra tác động điều tiết dòng chảy rõ rệt. Khi phân tích kịch bản gia tăng độ che phủ rừng từ 23,2% lên 43,2% (theo tiến trình phục hồi rừng của tỉnh Quảng Trị sau năm 2000), lượng dòng chảy mặt mùa lũ giảm khoảng 5,2% đến 7,8% nhờ khả năng giữ nước của tầng tán và thảm mục, đồng thời dòng chảy ngầm mùa kiệt được bổ sung tăng từ 3,1% đến 4,9%.

Thứ tư, dưới tác động tổng hợp của kịch bản biến đổi khí hậu A2 và các phương án quy hoạch sử dụng đất, dòng chảy đỉnh lũ trong các tháng chính vụ (tháng 10, 11) có thể tăng vượt mức 18,3%, làm gia tăng đáng kể diện tích ngập úng hạ du vượt ngưỡng 7.000 ha đã từng ghi nhận trong quá khứ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự phân hóa dòng chảy bắt nguồn từ sự kết hợp giữa địa hình chia cắt mạnh, độ dốc lưu vực bình quân lên tới 20,1% và tính chất mưa bão nhiệt đới tập trung cao độ (chiếm 68% đến 70% tổng lượng mưa năm trong 3-4 tháng mùa mưa). Vào mùa khô, hiệu ứng gió Tây Nam khô nóng hoạt động mạnh khiến lượng bốc hơi bình quân đạt từ 1.200 đến 1.300 mm/năm kết hợp với nắng nóng làm cạn kiệt tầng chứa nước ngầm nông.

Các phát hiện này có thể được biểu diễn một cách trực quan qua hệ thống biểu đồ đường quá trình thủy văn (hydrograph) so sánh lưu lượng thực đo và mô phỏng tại trạm Gia Vòng, biểu đồ cột thể hiện mức biến đổi phần trăm dòng chảy tháng theo kịch bản A2 và B2, cùng với bảng ma trận chồng ghép các lớp bản đồ sử dụng đất qua các thời kỳ. So với các nghiên cứu thủy văn trước đây tại miền Trung, kết quả nghiên cứu đã làm sáng tỏ cơ chế điều tiết của rừng đầu nguồn: rừng không làm tăng tổng lượng nước năm nhưng có vai trò cốt lõi trong việc san phẳng biểu đồ dòng chảy, cắt giảm đỉnh lũ cực đoan và duy trì dòng chảy cơ bản trong mùa cạn. Điều này mang ý nghĩa quyết định đối với an toàn hồ đập chứa nước trên lưu vực, tiêu biểu như hồ Kinh Môn (dung tích 18,2 triệu m³) và hồ Ái Tử (dung tích 15,5 triệu m³).

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả mô phỏng định lượng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm quản lý hiệu quả tài nguyên nước và thích ứng biến đổi khí hậu trên lưu vực sông Thạch Hãn:

Thứ nhất, hiện đại hóa mạng lưới quan trắc và cảnh báo sớm thủy văn. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Trị phối hợp với Đài Khí tượng Thủy văn khu vực cần triển khai lắp đặt thêm 3 trạm quan trắc dòng chảy tự động trên dòng chính sông Thạch Hãn và các nhánh Rào Quán, Cam Lộ trong giai đoạn 2024-2026, nhằm khắc phục dứt điểm tình trạng thiếu hụt dữ liệu dòng chảy thực đo và nâng cao độ chính xác dự báo lũ lên trên 85%.

Thứ hai, đẩy mạnh chiến lược phục hồi rừng phòng hộ đầu nguồn. Chi cục Kiểm lâm và các Ban Quản lý rừng phòng hộ cần duy trì và mở rộng diện tích che phủ rừng lưu vực đạt mục tiêu trên 50% vào năm 2030, chú trọng khoanh nuôi tái sinh tự nhiên tại 2 huyện miền núi Đakrông và Hướng Hóa, nhằm giảm thiểu tối thiểu 8% lưu lượng đỉnh lũ và hạn chế xói mòn rửa trôi đất sườn dốc.

Thứ ba, tối ưu hóa quy trình vận hành liên hồ chứa thủy lợi - thủy điện. Công ty TNHH MTV Quản lý và Khai thác Công trình Thủy lợi Quảng Trị cần xây dựng quy chế vận hành điều tiết linh hoạt cho hệ thống các hồ chứa lớn như Kinh Môn, Ái Tử, Nam Thạch Hãn (tổng dung tích trữ hữu ích hơn 40 triệu m³) trước năm 2025, bảo đảm tích trữ đủ 100% dung tích thiết kế phục vụ mùa khô và chủ động hạ mực nước đón lũ trước 24 đến 48 giờ khi có dự báo mưa lớn.

Thứ tư, tái cơ cấu mùa vụ và quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp bền vững. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu cây trồng chịu hạn trên diện tích 16.898 ha đất canh tác lúa hè thu thường xuyên thiếu nước tại các khu vực đuôi kênh N1, N4, N6 thuộc huyện Gio Linh và Triệu Phong, hoàn thành trước năm 2027 nhằm giảm thiểu rủi ro thiệt hại do hạn hán xuống dưới 10%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước như Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Trị. Kết quả kịch bản dòng chảy cung cấp số liệu đầu vào chuẩn xác để xây dựng Quy hoạch tài nguyên nước mặt cấp tỉnh tầm nhìn đến năm 2050 và Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu cấp địa phương.

Thứ hai, các đơn vị quản lý, khai thác công trình thủy lợi, thủy điện trên lưu vực sông Thạch Hãn. Báo cáo cung cấp căn cứ định lượng về lưu lượng nước đến để tính toán lại dung tích phòng lũ, hiệu chỉnh quy trình điều tiết nước hồ chứa và lập phương án cấp nước an toàn cho hơn 600.000 dân cư toàn tỉnh.

Thứ ba, các học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Thủy văn học, Biến đổi khí hậu và Quản lý tài nguyên môi trường. Luận văn là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình thiết lập, hiệu chỉnh bộ thông số và kiểm định mô hình SWAT cho lưu vực sông thiếu dữ liệu đo đạc thực tế.

Thứ tư, các tổ chức phát triển quốc tế và tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng biến đổi khí hậu tại miền Trung. Nghiên cứu cung cấp bức tranh chi tiết về các điểm nóng lũ quét, ngập lụt và hạn hán, giúp xây dựng các dự án trồng rừng và sinh kế cộng đồng đúng trọng tâm.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình SWAT có những ưu điểm vượt trội nào khi áp dụng cho lưu vực sông Thạch Hãn? Mô hình SWAT là công cụ thủy văn bán phân bố có khả năng mô phỏng liên tục dòng chảy dựa trên cơ sở vật lý với dữ liệu bước thời gian ngày. Điểm mạnh vượt trội của SWAT là khả năng giải quyết bài toán thủy văn tại các lưu vực thiếu trạm đo lưu lượng thực tế, cho phép phân chia chi tiết 4 tiểu lưu vực và hàng loạt đơn vị HRU để mô phỏng chính xác sự tương tác giữa khí tượng, thổ nhưỡng và thảm phủ thực vật.

Chỉ số Nash-Sutcliffe trong nghiên cứu đạt mức bao nhiêu và phản ánh điều gì? Chỉ số Nash-Sutcliffe đạt 0,713 trong giai đoạn hiệu chỉnh và 0,730 trong giai đoạn kiểm định tại trạm thủy văn Gia Vòng. Theo tiêu chuẩn đánh giá mô hình thủy văn quốc tế, chỉ số NSE vượt trên 0,70 khẳng định mô hình đạt độ chính xác rất tốt, bảo đảm độ tin cậy cao khi sử dụng bộ thông số này để dự báo xu thế dòng chảy tương lai.

Biến đổi khí hậu tác động cụ thể như thế nào đến lưu lượng dòng chảy mùa lũ và mùa kiệt? Theo kịch bản A2 và B2 giai đoạn 2020-2100, dòng chảy mùa lũ tăng mạnh từ 8,2% đến 16,5%, làm gia tăng đột biến lưu lượng đỉnh lũ trong tháng 10 và 11. Ngược lại, dòng chảy mùa kiệt suy giảm sâu từ 5,4% đến 13,5% vào các tháng hè, khiến tình trạng thiếu nước ngọt và xâm nhập mặn trở nên gay gắt hơn.

Vai trò của việc tăng độ che phủ rừng đối với dòng chảy lưu vực thể hiện ra sao? Khi độ che phủ rừng trên lưu vực tăng từ 23,2% lên hơn 43,2%, thảm phủ thực vật giúp giữ nước mặt, làm giảm dòng chảy đỉnh lũ từ 5,2% đến 7,8%, đồng thời tăng khả năng thấm bổ sung cho tầng nước ngầm, giúp duy trì dòng kiệt tăng từ 3,1% đến 4,9% trong mùa khô hạn.

Dữ liệu đầu vào của nghiên cứu được thu thập từ những nguồn nào và trong bao lâu? Nghiên cứu sử dụng chuỗi số liệu khí tượng thủy văn kéo dài 27 năm (1977-2004) tại 7 trạm quan trắc trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, kết hợp với bản đồ số độ cao DEM, bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ thảm phủ năm 2000 và kịch bản biến đổi khí hậu quốc gia do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố.

Kết luận

Nghiên cứu ứng dụng mô hình SWAT khảo sát biến đổi dòng chảy do biến đổi khí hậu và sử dụng đất cho lưu vực sông Thạch Hãn đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu đề ra với 5 kết quả cốt lõi:

  • Thiết lập thành công mô hình SWAT trên lưu vực diện tích 2.660 km² với chỉ số NSE đạt 0,713 ở giai đoạn hiệu chỉnh và 0,730 ở giai đoạn kiểm định, khẳng định tính khả thi vượt trội của mô hình trong điều kiện khan hiếm dữ liệu dòng chảy thực đo.
  • Phân tích chi tiết quy luật dòng chảy năm đạt 3,92 tỷ m³ cùng đặc điểm phân phối không đều khi mùa lũ 4 tháng chiếm tới 62,5% - 80% lượng nước cả năm.
  • Định lượng chính xác tác động của biến đổi khí hậu theo kịch bản A2 và B2 giai đoạn 2020-2100, chỉ ra nguy cơ dòng chảy mùa lũ tăng tới 16,5% và dòng kiệt giảm sâu tới 13,5%.
  • Chứng minh vai trò quan trọng của việc nâng cao độ che phủ rừng lên trên 43,2% giúp giảm từ 5,2% đến 7,8% dòng chảy đỉnh lũ và bổ sung đáng kể cho dòng chảy mùa kiệt.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp công trình và phi công trình đồng bộ, bao gồm nâng cấp mạng lưới quan trắc, quản lý rừng đầu nguồn và tối ưu hóa vận hành liên hồ chứa.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp bức tranh định lượng khoa học và toàn diện đầu tiên về tài nguyên nước sông Thạch Hãn dưới tác động kép của tự nhiên và con người. Trong các bước tiếp theo từ nay đến năm 2030, các cơ quan chức năng cần tích hợp kết quả mô phỏng này vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Trị. Quý độc giả, nhà khoa học và các nhà quản lý quan tâm có thể khai thác toàn văn luận văn để ứng dụng trực tiếp vào công tác nghiên cứu học thuật và hoạch định chính sách phát triển bền vững lưu vực sông.