CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN 1. Bối cảnh hình thành đề tài Dù trong thời đại nào, những áp lực cuộc sống luôn tồn tại trong mọi cộng đồng và xã hội, tần suất thái quá của chúng sẽ tạo nên những bệnh lý tâm thần đe dọa cuộc sống con người. Bước sang thế kỷ 21, vấn đề bệnh lý này ngày càng trở nên trầm trọng; chúng ngày càng gia tăng, len lỏi trong cuộc sống khiến cho các áp lực gánh nặng tâm lý con người rơi vào những điều tồi tệ, và hậu quả của nó là sự gia tăng của tình trạng tự tử ngày càng đáng báo động [1]. Với những tác động to lớn từ đại dịch Covid 19 kéo dài từ cuối năm 2019 cho đến hiện tại, trong khi kinh tế suy thoái do dịch bệnh nhận được nhiều chú ý của truyền thông thì một cuộc khủng hoàng vô hình khác đang lung lay nền kinh tế trên toàn cầu nhưng chưa nhận được sự công nhận: cuộc khủng hoảng do bệnh tâm thần.
Các báo cáo của Ủy ban Lancet, rối loạn tâm thần đang gia tăng ở mọi quốc gia trên thế giới và sẽ khiến nền kinh tế toàn cầu thiệt hại 16 nghìn tỷ USD vào năm 2030 [2]Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO), trầm cảm là căn bệnh thứ hai gây hại đến sức khỏe con người chỉ sau tim mạch trong năm 2020 [3]. Cứ 40 giây trên thế giới có 1 người tự tử do trầm cảm (800 000 ca tự tử/năm) [4], Thực tế tại Việt Nam, vấn để sức khỏe tâm thần vẫn chưa được chú trọng, theo thống kê tại Việt Nam số người tự tử hằng năm lên tới 36.000 người, cao gấp 3 -4 lần số ca tử vong do tai nạn giao thông, và trầm cảm chịu trách nhiệm cho 75% các vụ tự tử kể trên [5]. Biểu hiện điển hình của trầm cảm, là các ức chế toàn bộ hệ thống tâm thần, được xem như là một sát thủ tinh thần của thời hiện đại. Đa số các vấn để liên quan đến sức khỏe tâm thần thường không được chú trọng, đôi lúc người bệnh vẫn không nhận ra những thay đổi trong tâm lý hay cuộc sống mà khi kéo dài, xuất hiện những tình trạng gây ảnh hướng đến cuộc sống mới tìm đến cơ sở khám, chữa bệnh.
Vì vậy, việc điều trị bệnh trầm cảm hiện nay với rất nhiều phương pháp khác nhau nhằm giúp người bệnh có thể nhanh chóng hồi phục, cũng như hòa nhập và phát triển xã hội, ngoài các liệu pháp tâm lý và hóa được được áp dụng từ rất lâu và phổ biến, Liệu pháp laser bán dẫn công suất thấp cũng ngày càng được các nhà khoa học 1|Page Mai Nguyễn Quốc Thái - MSHV: 2070248 Luận Văn Tốt Nghiệp Thạc Sĩ đánh giá cao về tính hiệu quả cũng như những tác động tích cực của chùm tia laser trong việc cải thiện cũng như giảm bớt các triệu chứng và hỗ trợ điều trị cho các bệnh nhân trầm cảm hiện nay, được xem như là một phương pháp mới, ít phổ biến tại Việt nam nhưng mang lại tính hiệu quả cao và không tác dụng phụ. Mục tiêu và nhiệm vụ của nghiên cứu Trên cơ sở tổng quan trên, Mục tiêu đề tài luận văn được đề ra là Nghiên cứu ứng dụng Laser bán dẫn công suất thấp trong điều trị bệnh nhân trầm cảm nghiên cứu vào các nhiệm chính như sau: - Thực hiện tổng quan vể bệnh trầm cảm cũng như các vấn đề liên quan đến trầm cảm và phương pháp điều trị trầm cảm bằng Laser Công Suất Thấp - Xây dựng cơ sở lý luận cho phương pháp hỗ trợ nghiên cứu điều trị cho các bệnh nhân trầm cảm bằng liệu pháp Laser Bán Dẫn Công Suất Thấp. Trên cơ sở ấy thiết kế mô hình phục vụ điều trị cho bệnh nhân. - Tổ chức nghiên cứu sử dụng phương pháp nêu trên trong việc điều trị lâm sàng.
Từ đó tiến hành đánh giá và hoàn thiện các phương pháp đề ra nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả của liệu pháp ấy. 2|Page Mai Nguyễn Quốc Thái - MSHV: 2070248 Luận Văn Tốt Nghiệp Thạc Sĩ CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 2. Tổng quan các vấn đề liên quan đến trầm cảm 2.1 Khái niệm chung Rối loạn khí sắc thể hiện từ buồn bã quá mức gọi là trầm cảm hay vui sướng quá mức gọi là hưng cảm. Trầm cảm và hưng cảm là hai hội chứng của rối loạn khí sắc.
Rối loạn khí sắc là trạng thái bệnh lý biểu hiện bằng rối loạn trầm cảm đơn thuần hoặc xen kẽ với những rối loạn hưng cảm hoặc rối loạn khí sắc chu kỳ ở cường độ cao, trong thời gian dài hoặc có những rối loạn hành vi, tác phong rõ rệt, những hành động này làm người bệnh mất khả năng hoạt động, thích ứng với xã hội và xung quanh [6]. Thuật ngữ “ rối loạn khí sắc” mô tả trạng thái cảm xúc duy trì nội tại, được sử dụng chính xác hơn “ rối loạn cảm xúc” (chỉ đơn thuần mô tả biểu hiện cảm xúc bên ngoài của môt tình trạng cảm xúc luôn biến đổi) [7]. Rối loạn khí sắc được xem như một hội chứng hơn là một bệnh lý rời rạc, bao gồm nhóm các dấu hiệu và triệu chứng kéo dài trong một giai đoạn từ vài tuần đến vài tháng, khởi phát ở một người có nền tảng hoạt động chức năng bình thường. Những rối loạn này có khuynh hướng tái phát và thường theo chu kì [8].
Khí sắc có thể bình thường, hưng phấn hoặc trầm cảm. Về mặt lâm sàng, người ta quan tâm tới những rối loạn trầm cảm nhiều hơn, vì các rối loạn này bệnh sinh phức tạp hơn và điều trị khó hơn so với rối loạn hưng cảm. Người bình thường trải nghiệm một giới hạn rộng về khí sắc và có một tỉ số quân bình lập lại các biểu iện cảm xúc; họ cảm thấy ít nhiều trong việc kiểm soát khí sắc và cảm xúc bản thân. Trong rối loạn khí sắc, cảm giác về sự kiểm soát bị mất và đây là trải nghiệm chủ quan gây ra sự khó chịu đáng kể [8].
Khái niệm trầm cảm Trầm cảm là hiện tượng ức chế của các quá trình hoạt động tâm thần với bệnh cảnh lâm sàng gồm các triệu chứng thường gặp như: nét mặt buồn rầu, ủ rũ, mau mệt mỏi, không muốn làm việc, mất hoặc giảm mọi quan tâm thích thú ngay cả những đam mê thích thú cũ, giảm tập trung chú ý, mất hoặc giảm tự tin, tự đánh giá thấp 3|Page Mai Nguyễn Quốc Thái - MSHV: 2070248 Luận Văn Tốt Nghiệp Thạc Sĩ mình. Quá trình suy nghĩ chậm chạp, ý tưởng nghèo nàn, tự cho mình có tội, bi quan về tương lai. Một số trường hợp trầm cảm nặng, bệnh nhân có ý nghĩ hoặc hành vi tự sát [9]. Trong trầm cảm thường có các triệu chứng của cơ thể như mất ngủ( thường là mất ngủ cuối giấc, thức dậy sớm), hồi hộp, đánh trống ngực, mạch nhanh, đau mỏi xương cơ khớp, sút cân, giảm hoạt động tình dục [10].
Bệnh nhân thường có hội chứng lo âu và những cảm giác căng thẳng bất an, sợ hãi [11] … 2. Lịch sử bệnh trầm cảm Những rối loạn trầm cảm đã có kể từ khi con người biết viết lịch sử [12] Trong kinh thánh, vua David cũng như vua Job cũng mắc phải căn bệnh này. Thuật ngữ trầm cảm hay trầm uất cũng được Hyppocrate dùng trong học thuyết thể dịch của ông [13].Đến thể kỷ thứ XVIII, Pinel mô tả trầm uất là một trong 4 loại loạn thần [14] Sau đó Esquirol tách ra từ các bệnh loạn thần bộ phận trầm cảm mà ông gọi là lypemanie ( cơn buồn rầu) [15], đi sâu vào nghiên cứu các yếu tố bệnh nguyên, bác bỏ thuyết thể dịch. Không những thế trầm cảm còn được các nhà văn hóa, nghệ thuật đưa vào các tác phẩm văn học, nghệ thuật trong hàng trăm năm.
Đến thế kỷ thứ XIX, trầm cảm được xem là một sự yếu đuối về cá tính do di truyền.Từ giữa sau thế kỷ XIX, người ta đã mô tả lâm sàng rõ ràng hơn trong các bệnh: Loạn thần hai thể ( Bailarger,1854), loạn thần tuần hoàn (Falret J.P, 1854) và loạn thần hưng trầm cảm ( Kraepenlin, 1899). Nhưng mãi đến giữa năm 1970 thuật ngữ MDD ( Major Depressive Disorder ) được đưa ra bởi một nhóm bác sĩ lâm sàng Hoa Kỳ vào giữa những năm 1970 [16]. Từ đó trầm cảm đã trở thành một căn bệnh len lỏi trong suốt quá trình hình thành và phát triển của xã hội hiện đại. Dịch tễ học Rối loạn trầm cảm là rối loạn phổ biến và mãn tính, điều trị Hiệu quả thì khó và đắt đỏ, giá cả vượt trội hơn so với một số bệnh mãn tính khác như đái tháo đường hay tăng huyết áp [17], hơn một nửa số bệnh nhân trải qua điều trị lần thứ nhất thì cũng trải qua lần thứ hai [18], điều này sẽ làm cho bệnh nhân mất việc làm, cản trở quan hệ cá nhân, lạm dụng thuốc, tình trạng sức khỏe trở nên tồi tệ và ước lượng trầm cảm là nguyên nhân dẫn đầu mất khả năng hoạt động được tính toán bởi YLDs chiếm tỉ lệ 12% của tất cả căn nguyên gây mất khả năng lao động [19].
4|Page Mai Nguyễn Quốc Thái - MSHV: 2070248 Luận Văn Tốt Nghiệp Thạc Sĩ 2. Tỉ lệ mắc bệnh Đây là rối loạn thường gặp với khoảng 15% người lớn trong dân số chung có ít nhất một cơn trầm cảm chủ yếu trong giai doạn nào đó của cuộc sống, có thể đạt đến 25% ở nữ giới [20]. Tỉ lệ mắc mới của rối loạn trầm cảm là 10% tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu và 15% khoa nội tổng quát nội trú [21]. Tuổi phát bệnh Trầm cảm có thể bắt đầu ở bất kỳ độ tuổi nào từ trẻ em cho đến người già, ước tính khoảng 50% bệnh nhân khởi phát trong lứa tuổi từ 2 -50 tuổi [20].
Ở người già tỉ lệ trầm cảm và loạn khí sắc từ khoảng 5 – 10% , khi so với trẻ em và trẻ vị thành niên trong cộng đồng bị trầm cảm có tỉ lệ là 2 -6% [22], theo một báo cáo của trung tâm thông tin sức khỏe thanh thiếu niên quốc gia Mỹ hơn 25% thanh thiếu niên bị ảnh hưởng bởi trầm cảm mức độ nhẹ, nguy cơ tự sát ở nhóm này cũng cao hơn so với cộng đồng [22]. Trong khi ở người già trầm cảm thường song hành cũng các bệnh mãn tính khác nên thường không được đánh giá đúng mực nên chỉ có khoảng 70% bệnh nhân tìm đến điều trị nhưng chỉ 10% được điều trị đầy đủ [21].