ĐẶT VẤN ĐỀ Histon deacetylase (HDAC) là một họ enzym có vai trò quan trọng trong việc điều hòa biểu sinh. Các enzym này loại bỏ nhóm acetyl khỏi protein histon, dẫn đến cấu trúc nhiễm sắc thể đặc hơn và cuối cùng ức sự chế biểu hiện gen [22]. Các enzym HDAC tham gia vào nhiều quá trình sinh học, bao gồm sửa đổi sau dịch mã, phiên mã gen, tạo ra các tác động đến sức khỏe và bệnh tật của con người [29]. Cho đến nay, 18 loại HDAC ở người đã được khám phá và được chia thành bốn nhóm.
Mỗi loại HDAC có sự khác biệt về trình tự, vị trí biểu hiện và chức năng, vì vậy, sự tăng biểu hiện của mỗi loại HDAC cũng liên quan đến các loại bệnh khác nhau [22]. Các chất ức chế HDAC hiện nay chủ yếu ức chế đồng thời nhiều loại HDAC gây ra một số tác dụng không mong muốn như mệt mỏi, giảm tiểu cầu và vấn đề tiêu hóa. Vì vậy, nghiên cứu thuốc mới có tác dụng chọn lọc trên đích phân tử được cho là giải pháp nhằm cải thiện vấn đề này [38]. Histon deacetylase 2 (HDAC2) là một enzym HDAC nhóm I.
Sự biểu hiện quá mức của HDAC2 đã được quan sát thấy ở nhiều bệnh ung thư, chẳng hạn như ung thư phổi, vú, đại trực tràng, tuyến tiền liệt và dạ dày [1], [2], [30]. Đây là những bệnh ung thư có số ca mắc mới cao nhất (với tổng số hơn 9 triệu người mắc mới trên thế giới vào năm 2022) và tỷ lệ tử vong do các bệnh này cũng thuộc nhóm cao theo thống kê ung thư toàn cầu mới nhất của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ [5]. Do đó, nhắm mục tiêu HDAC2 bằng các chất ức chế là một cách tiếp cận đầy hứa hẹn, vừa giúp tăng hiệu quả điều trị cho các bệnh ung thư phổ biến này, vừa giúp giảm độc tính đối với người sử dụng. Tuy nhiên, việc nghiên cứu thuốc mới là một quá trình tốn kém về thời gian và chi phí.
Nhờ sự tiến bộ của sinh học cấu trúc và sự tăng trưởng theo cấp số nhân về sức mạnh tính toán, giúp thực hiện các mô phỏng phức tạp trong thời gian tương đối ngắn, các phương pháp thiết kế thuốc có sự hỗ trợ của máy tính (Computer - Aided Drug Design) ngày càng đóng vai trò to lớn trong việc đẩy nhanh quá trình phát triển thuốc mới [46]. Dựa vào những cơ sở trên, đề tài “Xây dựng, ứng dụng mô hình học máy kết hợp với docking trong thiết kế một số chất ức chế histon deacetylase 2 mới” được thực hiện với hai mục tiêu chính: 1. Xây dựng mô hình học máy để sàng lọc và dự đoán các hợp chất có khả năng ức chế enzym histon deacetylase 2. Sử dụng phương pháp docking phân tử để thiết kế một số cấu trúc mới có tiềm năng ức chế enzym histon deacetylase 2.
Giới thiệu về histon deacetylase 2 1. Enzym histon deacetylase Histon là một nhóm các protein đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc và chức năng của chromatin hay chất nhiễm sắc - vật liệu di truyền của tế bào nhân thực. Đơn vị cơ bản cấu thành chất nhiễm sắc là nucleosom, trong đó một octamer lõi gồm các dimer của bốn protein histon (H2A, H2B, H3 và H4 và/hoặc các dạng đồng phân biến thể của các protein histon này) được bao bọc bởi một đoạn ADN xoắn kép [31]. Các histon lõi có hai miền cấu trúc, miền gấp histon tương tác với ADN thông qua các gốc tích điện dương và miền đầu N nhô ra từ lõi của nucleosom [7].
Những phần nhô ra này giàu các gốc lysin và arginin, được biến đổi nhiều nhất sau dịch mã (PTM), chẳng hạn như acetyl hóa, methyl hóa và phosphoryl hóa [1]. Acetyl hóa là một trong những biến đổi histon quan trọng quyết định cấu trúc chất nhiễm sắc và hoạt động phiên mã. Quá trình acetyl hóa histon thuận nghịch được điều chỉnh bởi hai loại enzym có hoạt tính đối lập là histon acetyltransferase (HAT) và histon deacetylase (HDAC). Enzyme HAT xúc tác quá trình bổ sung nhóm acetyl vào nhóm ε- amino lysin trên đầu histon, làm trung hòa điện tích dương ở các gốc lysin này, do đó làm suy yếu tương tác tĩnh điện giữa ADN tích điện âm và histon.
Nhờ cơ chế này, HAT và quá trình acetyl hóa histon làm nới lỏng cấu trúc nucleosom, thúc đẩy khả năng tiếp cận của các yếu tố phiên mã, dẫn tới hoạt hóa phiên mã. Ngược lại, enzym HDAC xúc tác loại bỏ nhóm acetyl tích điện âm khỏi lysin histon, vì thế tăng ái lực của histon với ADN, khiến chất nhiễm sắc cô đặc hơn và khả năng phiên mã thấp hơn. Như vậy, HDAC và quá trình khử acetyl histon có liên quan đến ức chế biểu hiện gen [18], [22]. Quá trình acetyl hóa và khử acetyl tương ứng được xúc tác bởi enzym HAT và enzym HDAC [18].
Mặt khác, nhóm ε-amino lysin có xu hướng xảy ra nhiều biến đổi sau dịch mã (PTM) khác nhau nên việc đưa vào một nhóm acetyl có thể loại trừ một số biến đổi khác, giúp protein ổn định hơn. Trái lại, việc loại bỏ nhóm acetyl tạo điều kiện cho nhiều PTM tiềm năng trên ε-amino lysin, nhờ đó HDAC gián tiếp đẩy nhanh quá trình thoái hóa protein [29]. 2 Ngoài ra, HDAC cũng tác động lên các cơ chế phân tử khác, bao gồm các quá trình trao đổi chất và chuyển hóa ADN, bằng cách loại bỏ các nhóm acetyl khỏi cả protein histon và không chứa histon [22]. Ở người, có 18 loại HDAC đã được xác định và được chia thành bốn nhóm dựa trên sự tương đồng về trình tự so với HDAC ở nấm men Saccharomyces cerevisiae [1], [22], [29]: - Nhóm I: Các HDAC có trình tự tương tự với protein Rpd3, bao gồm HDAC1, HDAC2, HDAC3 và HDAC8.
- Nhóm II: Các HDAC có trình tự tương tự với protein Hda1, được chia thành hai phân nhóm dựa trên phân tích trình tự: + Phân nhóm IIa: bao gồm HDAC4, HDAC5, HDAC7 và HDAC9. + Phân nhóm IIb: bao gồm HDAC6 và HDAC10. - Nhóm III: Các HDAC có trình tự tương tự với protein Sir2 (các sirtuin), bao gồm SIRT1-7. - Nhóm IV: HDAC có trình tự tương tự với cả protein Rpd3 và Hda1, chỉ gồm HDAC11.
Các HDAC nhóm I, II và IV (còn gọi là HDAC “kinh điển”) là các enzym phụ thuộc ion kẽm (Zn2+), có cơ chế xúc tác khác với HDAC nhóm III là enzym phụ thuộc nicotinamide adenine dinucleotide (NAD+) [29]. Cơ chế xúc tác của các enzym HDAC phụ thuộc kẽm Hình 1. Cơ chế xúc tác của các enzym phụ thuộc kẽm [29]. Chú thích: (A) Mô hình được đề xuất từ cấu trúc HDLP.
(B) Mô hình được đề xuất từ cấu trúc HDAC8. Tương tác liên kết hydro được biểu diễn bằng các đường nét đứt. Các acid amin H: histidin; Y: tyrosin; D: acid aspartic. Các con số biểu thị vị trí acid amin tương ứng trong protein.
3 Hai mô hình về cơ chế xúc tác của các enzym HDAC phụ thuộc Zn dựa trên cấu trúc protein tương tự HDAC ở người (HDLP) và cấu trúc HDAC8 đã được đề xuất (Hình 1. Nhìn chung, hai mô hình này tương tự nhau. Miền xúc tác của enzym bao gồm một túi hình ống, một vị trí gắn kẽm và bộ ba xúc tác gồm một tyrosin và hai histidin tạo liên kết hydro với hai acid aspartic. Một trong hai histidin xúc tác tạo điều kiện thuận lợi cho sự tấn công ái nhân vào cơ chất carbonyl bằng cách kích hoạt một phân tử nước phối trí với ion kẽm.
Amino acid tyrosin bên cạnh kẽm, đối diện với cặp acid amin His-Asp giúp ổn định hợp chất trung gian tứ diện được hình thành. Cả kẽm và tyrosin đều tham gia phân cực carbonyl cơ chất để tấn công ái nhân. Hai histidin được đề xuất hoạt động như hệ thống chuyển tiếp điện tích His-Asp, điển hình của các serin protease như chymotrypsin và chymotrypsinogen trong phản ứng enzym [29], [33]. Các chất ức chế histon deacetylase Cơ chế chung của các chất ức chế HDAC (HDACi) phụ thuộc kẽm là chiếm vị trí hoạt động, từ đó ức chế cạnh tranh sự liên kết cơ chất với HDAC.
Do vậy, HDACi được thiết kế giống cấu trúc của acetyl-lysin và thường chứa ba vùng: vùng gắn kẽm (ZBG - zinc-binding group), vùng cầu nối kỵ nước (linker) và vùng nhận diện bề mặt (cap group). Cầu nối kỵ nước đưa ZBG vào vị trí hoạt động một cách hiệu quả bằng cách lấp đầy miền xúc tác, trong khi vùng nhận diện bề mặt ở đầu kia của cầu nối tiếp xúc với các gốc acid amin ở miệng của miền xúc tác [9], [19]. HDAC là một metallicoenzym, do đó quan trọng nhất đối với bất kỳ chất ức chế HDAC nào là tương tác chelat với ion kẽm (Zn2+) ở vị trí hoạt động, nói cách khác, ZBG chính là vùng quyết định hiệu lực của các HDACi. Cấu trúc các thuốc ức chế pan-HDAC được FDA phê duyệt.
Theo cấu trúc hóa học của vùng gắn kẽm, các chất ức chế pan-HDAC (ức chế HDAC không chọn lọc) có thể được phân thành các nhóm bao gồm acid hydroxamic, 4 benzamid, peptid vòng, acid carboxylic béo mạch ngắn, ceton và một số nhóm khác [3], [19], [38]. Trên lâm sàng, các chất thuộc nhóm acid hydroxamic, benzamid và peptid vòng đã được nghiên cứu trong nhiều năm, các chất được FDA công nhận là thuốc ức chế HDAC dùng để điều trị một số bệnh cụ thể cũng nằm trong ba nhóm này. - Acid hydroxamic: Acid hydroxamic là chất ức chế pan-HDAC phổ biến nhất, đại diện bởi vorinostat (suberoylanilide hydroxamic acid - SAHA), belinostat, pracinostat, panobinostat. Ở nhóm chất này, oxy carbonyl và oxy hydroxyl của hydroxamic liên kết với ion kẽm.
Do hiệu suất in vitro ổn định, khả năng hòa tan tốt và tổng hợp dễ dàng, acid hydroxamic thường được ưu tiên trong thiết kế các HDACi mới. Bằng cách sửa đổi vùng nhận diện bề mặt và vùng cầu nối, hiệu quả ức chế và tính chọn lọc của các acid hydroxamic được cải thiện. Tuy nhiên, khả năng liên kết kim loại quá cao khiến các chất này có thể tương tác với các enzym phụ thuộc kẽm khác như aminopeptidase, matrix metallicoproteinase và carbonic anhydrase, gây ra tính chọn lọc thấp, tác dụng không mong muốn và độc tính nghiêm trọng [19]. - Benzamid: So với acid hydroxamic, các benzamid như chidamid và entinostat cho thấy khả năng chọn lọc tốt hơn đối với HDAC nhóm I.
Trong cấu trúc của benzamid, nitơ amin và oxy amid liên kết với ion kẽm, nhưng có ái lực thấp hơn so với hydroxamic. Trong khi đó, các acid amin xung quanh ZBG và túi chân tạo thành mạng lưới liên kết hydro để ổn định liên kết với chất ức chế. Vòng benzamid cũng có thể sửa đổi nhắm vào túi chân của HDAC nhóm I. Tuy nhiên, hằng số tốc độ liên kết chậm hơn có thể là nguyên nhân gây ra tác dụng phụ của thuốc [19].