CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1. Đặt vẫn đề Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao dẫn đến nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của người dân cũng tăng cao. Do đó, số lượng, quy mô của các cơ sở y tế cũng gia tăng nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của người dân. Bên cạnh những mặt tích cực mà các cơ Sở y tế đem lại thì quá trình hoạt động của các cơ sở này cũng xuất hiện những nguy cơ gây ô nhiễm môi trường từ việc xả thải nước thải y tế ngày cảng gia tăng.
Theo thống kê của Cục Quản lý môi trường y tế Bộ Y tế, hiện cả nước có 13.640 cơ sở y tế các loại. Mỗi ngày các cơ sở này thải ra môi trường khoảng 120.000 mỶ nước thải y tế (chưa tính nước thải của các cơ sở y tế dự phòng, đảo tao y dược, sản xuất thuốc.Đáng lo ngại là hiện nay mới chỉ có khoảng 53,4% bệnh viện trên cả nước có hệ thống xử lý nước thải y tế. Hầu hết các cơ sở y tế dự phòng chưa có hệ thống xử lý nước thai, chủ yếu xử lý sơ bộ bang hóa chất, bé tự hoại. Trên địa bàn Thành Phố H6 Chí Minh có khoảng 108 bệnh viện lớn đang hoạt động.
Trong đó, có 21 bệnh viện trực thuộc Trung ương, 31 bệnh viện thuộc Sở Y tế, 23 bệnh viện thuộc quận, huyện và 33 bệnh viện tư nhân. Tuy nhiên, đến nay vẫn còn khoảng 48 bệnh viện xử lý nước thải không đạt chuẩn môi trường và gần 15 bệnh viện vẫn chưa đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải y tế. Cụ thể, có 6/21 bệnh viện thuộc Trung ương nước thải sau xử lý có một số chỉ tiêu không đạt chuẩn môi trường và 4 bệnh viện không có hệ thống xử lý nước thải. Bên cạnh đó, 11/31 bệnh viện thuộc Sở Y tế thành phố xử lý nước thải chưa đạt chuẩn và 9 bệnh viện khác van đang trong giai đoạn đấu thầu xây dựng hệ thống xử lý nước thải.
Ngoài ra, trên địa bàn thành phố có khoảng 285 cơ sở y tế, phòng khám đa khoa, chuyên khoa, nhưng hau hết là không có hệ thông xử lý nước thải. Nước thải bệnh viện là một trong những mối quan tâm, lo ngại sâu sắc đối với các nhà quan lý môi trường và xã hội vì chúng có thê gay 6 nhiễm môi trường Trang 2 nghiêm trọng và nguy hiểm đến đời sống con người. Nước thải bệnh viện bao gồm nước thải từ các phòng phẫu thuật, phòng xét nghiệm, phòng thí nghiệm, từ các nhà vệ sinh, khu giặt là. có khả năng lan truyền rất mạnh các vi khuẩn gây bệnh, nhất là đối với nước thải được xả ra từ những bệnh viện hay những khoa truyền nhiễm, lây nhiễm.
Vì vậy việc nghiên cứu, tìm ra giải pháp công nghệ thích hợp dé xử ly hiệu quả nước thải bệnh viện đảm bảo các tiêu chuẩn cho phép khi thải ra môi trường đã được các nhà làm môi trường trong và ngoài nước quan tam. Do đó việc xử lý nước thải bệnh viện trước khi thải vào nguôn tiếp nhận là một yêu cầu thiết yếu. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, đề tài “Ứng dụng hệ thống pilot UMBR- MBR xử lý nước thải y tế” được thực hiện nhằm góp phan tìm ra giải pháp xử lý hiệu quả nước thải bệnh viện, giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường nước khi xả thai. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu của dé tài nhằm nghiên cứu ứng dụng hệ thống xử lý nước thai UMBR-MBR cho cơ sở y tế quy mô nhỏ và vừa phù hợp với điều kiện của TPHCM.
Phạm vi nghiên cứu Khảo sát đặc tính nước thải và điều kiện mặt bang cua 22 co so y tẾ tại TP.HCM làm tiền dé dé xuất hệ thống xử lý nước thải y tế công suất 2 m /ngày ứng dụng công nghệ lọc ky khí dòng chảy ngược đa tang bùn (Upflow Multi-media Bioreactor - UMBR) kết hợp công nghệ sinh học màng (Membrane Bioreactor — MBR). Mô hình thực nghiệm UMBR-MBR được tiến hành trên quy mô pilot, đặt tại khu xử lý nước thải của Bệnh viện Bưu Điện 2 TP. Hệ thống UMBR-MBR hoạt động với các tỉ số tuần hoàn (IR) lần lượt là 1. Xác định tỉ lệ tuần hoàn tốt nhất của hệ thống UMBR - MBR.
Đánh giá chất lượng nước thải đầu vào và đầu ra của hệ thống UMBR-MBR ở điều kiện vận hành khác nhau như trên. Các thông số phân tích bao gồm: pH, DO, độ kiểm, COD, BODs, SS, NH¿'-N, NO;-N, NO3-N, TKN, TP, SVIg0, MLSS, Trang 3 MLVSS, coliform, áp suất chuyển mang (TMP). Đánh giá hiệu quả xử lý của mô hình trong điều kiện vận hành thực tế. Đánh giá đặc tính màng của hệ thong UMBR - MBR tại các điều kiện vận hành.
Trang 4 CHƯƠNG 2 TONG QUAN 2. Tong quan nước thai y tế 2. Nguén gốc và đặc tính nước thai y tế Khử trùng, tây nhân, công nhân viên của cơ sở y tÊ Nước thải y tế Lau chùi phòng làm ¬ » Uk Phong bệnh nhân VIỆC, Sản CƠ SỞ V te Hình 2. Nguồn gốc nước thải y tế Trong các cơ co y tế một lượng lớn các chất được sử dụng cho các mục đích y tế như chân đoán điều trị và nghiên cứu.
Sau khi sử dụng , các tác nhân chân đoán, thuốc khử trùng va dược phẩm không chuyển hóa được bệnh nhân bai tiết và hiện diện trong nước thải. Hình thức loại bỏ này có thể gây nguy hiểm cho các sinh vật sống trong nguồn nước (Emmanuel và cộng su, 2005). Các cơ sở y tế xả một lượng đáng kế các hóa chất và các tác nhân vi sinh vật trong nước thải của họ. Hóa chất có trong nước thải của các cơ sở y tế thuộc các nhóm khác nhau, chăng hạn như thuốc kháng sinh, tác nhân tương phản X-quang, thuốc khử trùng va dược phẩm.
Nhiều thành phan trong số các hợp chất hóa hoc không chịu tác động của những cách xử lý nước thải thông thường. Chúng tôn tại trong nước bề mặt nơi chúng có thể ảnh hưởng đến hệ sinh thái thủy sinh và ảnh hưởng dén chuôi thức ăn. Con người đặc biệt ti¢p xúc nhiêu bởi các nguôn nước Trang 5 uống sản xuất từ nước bé mặt. Tác nhân vi sinh vật được đặc biệt quan tâm là các chủng vi khuẩn đa kháng.
Theo kết quả phân tích của Sở Tài Nguyên Môi trường TP.HCM, 80% nước thải từ các cơ sở y tế là nước thải bình thường (tương tự nước thải sinh hoạt) chỉ có 20% là những chất thải nguy hại bao gồm chất thải nhiễm khuẩn từ các bệnh nhân, các sản phẩm của máu, các mẫu chân đoán bị hủy, hóa chất phát sinh từ trong quá trình giải phẫu, lọc mau, hút máu, bảo quan các mẫu xét nghiệm, khử khuẩn. Với 20% chất thải nguy hại này cũng đủ để các vi trùng gây bệnh lây lan ra môi trường xung quanh. Đặc biệt, nếu các loại thuốc điều trị bệnh ung thư hoặc các sản phẩm chuyển hóa của chúng không được xử lý đúng mà đã xả thải ra bên ngoài sẽ có kha năng gây quai thai, ung thư cho những người. Anh hướng của nước thải y tế Nước thải bệnh viện chứa các vi sinh vật gây bệnh, dược chất chuyền hóa một phan, nguyên tô phóng xạ và các chất độc hại khác.
Nước thải như vậy nếu không được điều trị đúng cách có thé gay ton hại môi trường tự nhiên và tạo ra một sự mat cân bằng sinh học. Anh hưởng đến môi trường Trong nước thải y tế có chứa một hàm lượng lớn chất dinh dưỡng với thành phân N, P cao khi thải ra môi trường dễ gây ra hiện tượng phú dưỡng hóa, một số loại tảo sẽ phát triển mạnh sử dụng hết oxi trong nước gây ra hiện tượng thiếu oxi cho các sinh vật khác. Khi tảo phát triển mạnh trên bề mặt nước sẽ giảm độ chiều sáng xuống các tầng dưới tang nước sâu, giảm khả năng quang hop. Bên cạnh đó trong nước thải bệnh viện chứa một lượng nhỏ dầu mỡ động vật, khi xả vào môi trường đất, nước sẽ tạo một lớp che phủ ở bề mặt ngăn cản sự bé sung Oxi vao môi trường đất, nước, ức chế su phát triển các các vi sinh vật.
Các chất lơ lửng làm cho nước đục hoặc có độ màu gây mat mĩ quan, hạn chế độ sâu tầng nước được ánh sáng chiếu xuống. Mặt khác, chất răn lơ lửng lắng xuống với lượng lớn sẽ gây bồi lắng lòng sông, hạn chế sự di chuyền tàu thuyền, Trang 6 nước có thể gây ứ động sinh môi trường kị khí tạo thành mùi hôi gây ô nhiễm môi trường. Anh hưởng dén con người Nước thải từ các phòng phẫu thuật, phòng xét nghiệm, thí nghiệm, từ các nhà vệ sinh, khu giặt tay. với những mam bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ngày đêm chạy thăng vào hệ thống thoát nước chung của thành phố mà không qua xử lý, tạo thành những 6 dịch nguy hiểm.
Kim tiêm có thể gây tốn thương, truyền bệnh cho con người nếu không được thu gom hợp lý.Chất khử trùng, các hóa chất trong y khoa cũng ảnh hưởng không nhỏ đên sức khỏe con người, nhât là người sử dụng tiêp xúc với chúng. Các công nghệ xứ lý nước thải y tế Ô nhiễm nước bề mặt là một trong những van dé môi trường nghiêm trọng tại các đô thị ở Nepal do việc xả nước thải chưa qua xử lý vào hệ thống sông, biến chúng thành hệ thống cống rãnh công cộng. Nhà máy xử lý nước thải gần như không ton tại ở đất nước ngoại trừ một vài hệ thống trong thung lũng Kathmandu và thậm chí cả những hệ thống này cũng không hoạt động tốt. Triển khai thành công một vài hệ thống đất ngập nước kiến tạo trong ba năm qua đã thu hút sự chú ý đến công nghệ day hứa hẹn này.
Một hệ thống đất ngập nước kiến tạo dòng chảy ngầm để xử lý nước thải y tế và một hệ thống khác xử lý nước xám bây giờ đang trở thành một mô hình thí điểm của các hệ thống đất ngập nước được xây dựng ở Nepal. Bên cạnh các hệ thống này, năm hệ thống đất ngập nước kiến tạo đã được thiết kế và một số đang được xây dựng để xử lý nước thải thành phố Pokhara, nước thải trong Đại học Kathmandu, hai bệnh viện và một trường học. Với kinh nghiệm hiện tai, một số kiến nghị được chỉ ra để thúc đây công nghệ này trong các nước đang phát triển (Shrestha và cộng sự, 2001).