CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CỌC ỐNG THÉP. Giới thiệu chung, lịch sử phát triển của cọc ống thép. Các dạng kết cấu móng công trình: - Móng là kết cấu kỹ thuật xây dựng nằm dưới cùng của công trình xây dựng đảm nhiệm chức năng chuyển tiếp tải trọng của công trình vào nền đất bảo đảm cho công trình chịu được sức ép của trọng lực kết cấu phần trên đảm bảo sự chắc chắn của công trình. Móng phải được thiết kế và xây dựng và thi công chịu được tải trọng công trình phía trên, đảm bảo không bị lún gây ra nứt hoặc đổ vỡ.
Nền móng là phần đất nằm dưới đáy móng chịu toàn bộ hoặc phần lớn tải trọng công trình đè xuống, còn gọi là nền đất, nơi chịu toàn bộ tải trọng của công trình. Móng mố trụ cầu là một trong những yếu tố quan trọng nhất cần được lưu ý khi xây dựng công trình cầu. Đây là nơi quyết định cho sự kiên cố, bền vững và là nền tảng nâng đỡ cả công trình. - Móng công trình có nhiều loại: móng đơn, móng bè, móng băng hay móng cọc.
Tuỳ thuộc vào tải trọng, chiều cao của công trình bên trên và tính chất các tầng đất của công trình mà kỹ sư sẽ quyết định, tính toán và sử dụng loại móng phù hợp và an toàn. + Móng đơn: Là các loại móng đỡ một cột hoặc một cụm cột đứng sát nhau. + Móng băng: có dạng một dải dài, có thể độc lập hoặc giao nhau (cắt nhau hình chữ thập), để đỡ tường hoặc hàng cột. Việc thi công móng băng thường là việc đào móng quanh khuôn viên công trình hoặc đào móng song song với nhau trong khuôn viên đó.
Móng thuộc loại móng nông, là những móng xây trên hố đào trần, sau đó lấp lại, chiều sâu chôn móng khoảng dưới 2m đến 3m, trong trường hợp đặc biệt có thể sâu đến 5m và thường được xây dưới tường hoặc dưới hàng cột HVTH: Đinh Văn Phong – Lớp Xây dựng Cầu hầm K18 Trang:5 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật + Móng bè: trải rộng dưới toàn bộ công trình để giảm áp lực của công trình lên nền đất. Đây là một loại móng nông, được dùng chủ yếu ở nơi có nền đất yếu, sức kháng nén yếu dù không hay có nước hoặc do yêu cầu cấu tạo của công trình + Móng cọc: Là các loại móng gồm có cọc và đài cọc, dùng để truyền tải trọng của công trình xuống lớp đất tốt đến tận sỏi đá nằm ở dưới sâu. Người ta có thể đóng, hạ những cây cọc lớn xuống các tầng đất sâu, nhờ đó làm tăng khả năng chịu tải trọng lớn cho móng. Ngày nay thường sử dụng cọc nhồi bê tông, cọc đóng BTCT, cọc thép hình hoặc cọc ống thép.
- Móng cọc ống thép thường được chia làm 2 loại: dạng đơn và dạng giếng. Móng cọc ống thép dạng đơn được phát triển tương tự như các loại móng cọc phổ biến như cọc khoan nhồi hay cọc đóng (ép) BTCT. Hệ móng gồm các cọc được bố trí độc lập với số lượng và khoảng cách các cọc phụ thuộc vào thiết kế. Tuy nhiên, một trong những tồn tại của dạng móng cọc này là đối với các trụ cầu tại khu vực nước sâu, vẫn phải thi công hệ vòng vây cọc ván bao quanh để ngăn nước, phục vụ công tác thi công bệ và thân trụ.
Hệ móng cọc ống thép dạng giếng gồm rất nhiều cọc ống thép được liên kết với nhau bằng khóa nối với tác dụng không những làm chịu lực như kết cấu chính của móng mà còn ngăn nước tạm thời trong giai đoạn thi công. Móng cọc ống thép dạng giếng có thể dưới dạng hình tròn, chữ nhật và hình ô van. Phạm vi áp dụng móng này cho các vùng nước sâu để giảm được thời gian thi công công trình. Ưu nhược điểm của cọc ống thép.
- Cọc ống thép có nhiều ưu điểm nổi trội: phương pháp thi công đảm bảo, mức độ an toàn cao khi sử dụng, áp dụng thích hợp cho những nơi có điều kiện địa chất phức tạp, vật liệu cường độ cao, đạt được khả năng chịu tải trọng cao. HVTH: Đinh Văn Phong – Lớp Xây dựng Cầu hầm K18 Trang:6 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật - Tuy nhiên cọc ống thép còn có một số nhược điểm: phải có biện pháp chống ăn mòn cho kết cấu thép. HVTH: Đinh Văn Phong – Lớp Xây dựng Cầu hầm K18 Trang:7 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật CHƯƠNG 2: ỨNG DỤNG CỦA CỌC ỐNG THÉP TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 2. Ứng dụng cọc ống thép trong công trình cầu ở các nước trên Thế giới: - Trên thế giới, móng cọc thép là một loại móng đã được sử dụng để có thể đáp ứng được các điều kiện địa chất phức tạp, độ tin cậy của kết cấu móng trong xây dựng khá cao.
Từ đầu thế kỷ XX, móng cọc ống thép đã được sử dụng tại nhiều nước như Đức (1930), Nga (1931). Năm 1954, móng cọc ống thép dạng đơn đã được sử dụng trong xây dựng bến cảng Shiogama (Nhật Bản). Năm 1964, hệ vòng vây cọc ống thép lần đầu tiên được sử dụng tại Nhật Bản. Năm 1969, móng cọc ống thép đã được áp dụng cho cầu vượt sông Ishikari ở Hokkaido.
Tính đến nay, hàng nghìn móng cọc ống thép đã được xây dựng ở Nhật Bản, châu Âu, châu Mỹ. HVTH: Đinh Văn Phong – Lớp Xây dựng Cầu hầm K18 Trang:8 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật - Với những tính năng ưu việt, phương pháp thi công đảm bảo, mức độ an toàn cao khi sử dụng, cọc ống thép đã được ứng dụng rộng rãi trong xây dựng dân dụng, xây dựng cầu đường. Hàng năm có vài trăm nghìn tấn cọc ống thép được sử dụng ở Nhật Bản. Ngoài ra, cọc ống thép còn được sử dụng ở các nước phát triển gần đây của châu Á.
nơi có nhịp điệu phát triển cơ sở hạ tầng mạnh mẽ, nhu cầu vật liệu xây dựng đang tăng. Ứng dụng cọc ống thép trong công trình cầu tại Việt nam. - Ở Việt Nam, trước năm 1975, cọc ống thép được sử dụng khá phổ biến trong các công trình như cầu Sài Gòn, Rạch Chiếc, cảng Tân Cảng (TP.HCM), cầu Trần Hưng Đạo (Bình Thuận) và các cầu trên QL1, quân cảng Cam Ranh (Khánh Hòa), cảng chính Hải Phòng (Hải Phòng). Gần đây, cọc ống thép chỉ được sử dụng trong một vài dự án ODA, chủ yếu là cọc bê tông đúc sẵn hay cọc bê tông đổ tại chỗ được sử dụng.
Hình 2: Cọc ống thép sử dụng cho cầu Sài Gòn HVTH: Đinh Văn Phong – Lớp Xây dựng Cầu hầm K18 Trang:9 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật Hình 3: Cọc ống thép sử dụng cho cầu Nhật Tân Hình 4: Cọc ống thép sử dụng cho cầu Trần Hưng Đạo (TP.Phan Thiết) HVTH: Đinh Văn Phong – Lớp Xây dựng Cầu hầm K18 Trang:10 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật Hình 5: Cọc ống thép sử dụng cho cảng Sơn Dương (Tỉnh Hà Tĩnh) - Đối với kết cấu móng trong công trình xây dựng ở Việt Nam, cọc bê tông vẫn được sử dụng rộng rãi đến nay. Tuy nhiên, trong tương lai, với tốc độ phát triển nhanh chóng của cơ sở hạ tầng như kết cấu cảng nước sâu , kết cấu lớn và kết cấu khai thác nhanh chóng. đặc biệt do điều kiện nền đất yếu, nhu cầu cọc ống thép đòi hỏi ngày càng tăng cao với các ưu điểm như cường độ cao, chất lượng cao và thời gian thi công nhanh. - Tuy nhiên, với các ưu điểm nổi trội của cọc ống thép, nó cần được các chủ đầu tư, tư vấn thiết kế và thi công đánh giá cao và sử dụng.
Hiện nay, kinh nghiệm về thiết kế, thi công và áp dụng cọc ống thép ở Việt Nam chưa nhiều, do đó trước tiên cần phải nắm bắt triệt để cũng như xác định khả HVTH: Đinh Văn Phong – Lớp Xây dựng Cầu hầm K18 Trang:11 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật năng áp dụng và các vấn đề liên quan đến công nghệ cọc ống thép ở Việt Nam. Sau đó, cần phải có các tiêu chuẩn và hướng dẫn thiết kế, thi công cọc ống thép cũng như cần thiết phải phản ánh các kiến thức thu nhận được để tạo ra và duy trì môi trường áp dụng cọc ống thép tại Việt Nam. - Với nhận thức trên, Tập đoàn Thép Nippon Steel Nhật Bản (NSC) và nhóm nghiên cứu Trường Đại học GTVT (UTC) đã hợp tác nghiên cứu các vấn đề liên quan đến cọc ống thép và cọc ống ván thép ở Việt Nam. - Để nắm được khả năng áp dụng cọc ống thép trong điều kiện địa chất Việt Nam, nhóm nghiên cứu đã điều tra và phân tích cấu trúc đất và các đặc trưng cơ lý của đất và khả năng chịu tải của cọc ống thép áp dụng ở Việt Nam.
Nhóm nghiên cứu đã đưa ra kết luận đất dính và đất cát của Việt Nam không khác nhiều so với Nhật Bản, đặc trưng cơ lý thể hiện rằng, có thể so sánh được với đất áp dụng Tiêu chuẩn thiết kế của Nhật Bản. Do vậy có thể nói rằng, điều kiện địa chất Việt Nam phù hợp cho cọc ống thép. - Về phương pháp thiết kế cọc ống thép ở Việt Nam, nhóm nghiên cứu cho rằng, tiêu chuẩn thiết kế Việt Nam tham khảo rộng rãi các tiêu chuẩn thiết kế của nhiều quốc gia. Lựa chọn của tiêu chuẩn thiết kế cụ thể sẽ tùy thuộc vào chủ đầu tư, không có sự bắt buộc áp dụng tiêu chuẩn cụ thể cho kết cấu cụ thể.
Theo nhóm nghiên cứu, hiện nay thiết kế cọc ống thép dựa theo tiêu chuẩn Việt Nam an toàn hơn nhưng ít kinh tế hơn so với thiết kế dựa theo tiêu chuẩn Nhật Bản. - Vì vậy, để nâng cao chất lượng cọc ống thép, cần phải xem xét và nghiên cứu đến việc đưa ra một công thức hợp lý cho tính toán sức chịu tải ở Việt Nam dựa trên tiêu chuẩn Nhật Bản đã được khẳng định tính chính xác, để đạt được một thiết kế hợp lý. - Tiêu chuẩn kỹ thuật vật liệu làm cọc ống thép cho các cầu hiện nay chủ yếu theo tiêu chuẩn Nhật Bản (tương đương với tiêu chuẩn ASTM của Mỹ) như SKY400, SKY490 (cầu Thanh Trì, cầu Nhật Tân) theo JIS A5525. Đường HVTH: Đinh Văn Phong – Lớp Xây dựng Cầu hầm K18 Trang:12 Luận văn Thạc sỹ Kỹ thuật kính cọc ống thép thường có đường kính thay đổi từ 300-2.
Bên cạnh đó, chiều dày của cọc ống thép cũng là thông số quan trọng. Chiều dày tối thiểu của cọc ống thép không được nhỏ hơn 5mm. Tại vị trí đầu cọc và khu vực bố trí thép liên kết với bệ cọc, khuyến cáo chiều dày tối thiểu là 8mm với các cọc có đường kính nhỏ hơn 600mm, còn lớn hơn 600mm thì chiều dày tối thiểu là 10mm.