MỞ ĐẦU Nam châm và từ trường là những thành phần quan trọng trong nhiều thiết bị kỹ thuật. Ngày nay, nam châm được sử dụng trong nhiều động cơ ô tô, các đầu đọc và ghi thông tin trong lĩnh vực máy tính. Với sự phát triển của công nghệ nano, nhu cầu về các nam châm mạnh và tạo ra được từ trường không đồng nhất (biến thiên) lớn trong không gian nhỏ hơn ngày càng nhiều. Cho đến nay việc phân tách các đối tượng từ tính và phi từ tính cũng như các truyền động sử dụng lực từ thông thường sử dụng từ trường được tạo ra bởi các cuộn solenoid, các nam châm điện và các nam châm siêu dẫn.
Gần đây, một số nhóm nghiên cứu đã thành công trong việc sử dụng các nam châm vĩnh cửu để tạo ra từ trường lớn thay thế các nam châm truyền thống. Từ trường lớn này được tạo ra phù hợp với đặc điểm dị hướng từ mạnh của các vật liệu được sử dụng để làm nam châm vĩnh cửu, thường là hợp chất của vật liệu đất hiếm và kim loại chuyển tiếp. Tuy nhiên, từ trường đồng nhất không phải là thuận lợi vì các phân tách sử dụng từ tính đòi hỏi nguồn từ trường có cường độ lớn và biến thiên mạnh. Bởi vì lực từ tác dụng lên các đối tượng tỉ lệ thuận với độ cảm từ của đối tượng, cảm ứng từ và độ biến thiên của cảm ứng từ.
Cụ thể, một phần tử (đối tượng) từ tính khi được đặt trong một môi trường từ không đồng nhất sẽ chịu tác dụng của lực từ cho bởi công thức sau: với V là thể tích của phần tử từ, ∆χ là sự chênh lệch độ thẩm từ của phần tử từ (χp) và môi trường (χm), B là độ lớn của từ trường. Tùy thuộc vào giá trị của ∆χ mà phần tử từ sẽ chịu tác dụng của lực hút hay lực đẩy do từ trường tác động. Nếu ∆χ > 0 thì các phần tử sẽ chịu tác động của lực hút và bị hút về những vị trí có lực hút mạnh nhất (thường là các cạnh của nam châm), trong khi các phần tử sẽ bị đẩy ra xa khỏi nguồn từ trường tới những vị trí có lực đẩy nhỏ nhất nếu ∆χ < 0. Ngoài ra, khi ở trong dung dịch và được nhỏ lên các cấu trúc từ, các phần tử còn chịu tác động của các lực khác như: trọng lực (Fg), lực đẩy Archimedes (FA), lực kéo của dòng chất lỏng… vì thế các phần tử thường có xu hướng di chuyển (magnetophoresis) tới những vị trí ổn định nơi mà tổng các lực tác động lên phần tử có xu hướng cân bằng.
Việc tính toán các lực tác dụng lên phần tử từ cho phép chúng ta xác định và tiên đoán được cách mà phần tử từ di chuyển và 10 vị trí ổn định của chúng khi được đặt vào môi trường từ. Do đó, để tăng được hiệu quả của phân tách từ tính, bên cạnh các yêu cầu khác thì giá trị của tích cao cũng được yêu cầu. Theo dự đoán với các kỹ thuật chế tạo các hệ thống vi cơ điện tử và các vi nam châm ngày nay, các cấu trúc từ vĩnh cửu có thể tích hợp được trong các hệ thống phân tích vi lưu, do đó mở rộng các khả năng ứng dụng của nam châm. Một thực tế rõ ràng là các hệ thống phân tách từ này khá phức tạp, đắt tiền và cần nhiều công đoạn cũng như thời gian để chế tạo.
Do đó, các phương pháp thiết kế lý thuyết được sử dụng để thu được mô hình hệ thống tối ưu trước khi chế tạo. Công việc đầu tiên và quan trọng nhất của quá trình thiết kế lý thuyết này là mô phỏng từ trường. Vì vậy trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu lý thuyết và mô phỏng từ trường của một số cấu trúc từ kích thước micro-nano, có tính từ cứng và dị hướng từ lớn theo một trục. Tại viền của các nam châm, từ trường (B) rất mạnh và biến thiên (B) lớn được tạo ra, với tích giá trị (BB) có thể đạt 103 – 105 T2/m.
Từ trường và các đại lượng cơ bản Từ trường là môi trường vật chất đặc biệt bao quanh điện tích chuyển động và tác dụng lực lên điện tích chuyển động trong nó. Từ trường có thể sinh ra bằng hai cách: sử dụng các cuộn dây có dòng điện chạy trong dây dẫn hoặc nam châm vĩnh cửu. Trong các nam châm vĩnh cửu không có các dòng điện theo nghĩa thông thường mà chỉ có chuyển động quỹ đạo và chuyển động spin của điện tử. Đó cũng chính là nguồn gốc cơ bản của hiện tượng từ trong vật liệu.
Cảm ứng từ là đại lượng véctơ, đặc trưng cho từ trường về phương diện tác dụng lực. Cường độ từ trường hay còn gọi là véctơ cường độ từ trường đặc trưng cho độ mạnh yếu của từ trường. Trong chân không hoặc không khí, cường độ từ trường H có chiều giống như chiều của cảm ứng từ B. Chúng liên kết với nhau bởi phương trình [1, 2]: (1.A-2 là độ từ thẩm của chân không.
Trong các vật liệu từ, mỗi vật liệu từ có một từ trường nội tại (từ độ) nên khi được đặt trong từ trường ngoài , cảm ứng từ B sẽ bao gồm cả thành phần của từ trường ngoài , và từ độ bên trong vật liệu: (1. 2) Độ cảm từ thiết lập mối quan hệ giữa M và H theo phương trình sau: (1. 3) Từ các phương trình trên, chúng ta có thể thấy: (1. 4) với µr là độ từ thẩm tương đối của vật liệu so với chân không.
Các phương trình cơ bản của từ trường tĩnh Như chúng ta đã biết điện trường và từ trường đồng thời tồn tại trong không gian tạo thành một trường thống nhất gọi là trường điện từ. Vì vậy để mô tả về trường điện từ, Maxwell đã nêu ra một hệ thống các phương trình sau [20]: - Dạng vi phân: 12 (1. 8) - Dạng tích phân: (1. 14) trong đó: là véc tơ cường độ điện trường, có đơn vị (V/m) là véctơ cường độ từ trường, có đơn vị (A/m) là độ điện cảm, có đơn vị (C/m2) là mật độ điện tích, có đơn vị (C/m3) véctơ cảm ứng từ, có đơn vị (T) d véctơ vi phân diện tích có hướng vuông góc với mặt S có đơn vị (m2) dV vi phân thể tích V được bao bọc bởi diện tích S, có đơn vị (m3) d véctơ vi phân của đường cong tiếp tuyến với đường cong (C) bao quanh diện tích S, có đơn vị (m) , µ là hằng số điện môi và từ thẩm của môi trường Hệ các phương trình Maxwell viết như trên chỉ được áp dụng trong những điều kiện sau: 13 - Các vật thể đứng yên hoặc chuyển động chậm trong điện từ trường.
- Các đại lượng đặc trưng cho tính chất điện từ của môi trường không phụ thuộc thời gian và không phụ thuộc các véctơ đặc trưng cho điện từ trường. Như vậy, hệ phương trình Maxwell cho phép ta xác định được trạng thái của điện từ trường một cách đơn giản. Khi áp dụng hệ phương trình Maxwell cho từ trường tĩnh, ta phải cho các đạo hàm theo thời gian bằng 0 và cho (không có mật độ dòng) do đó các phương trình Maxwell sẽ đơn giản đi nhiều. Từ những điều kiện trên, ta có thể viết lại hệ phương trình Maxwell cho trường tĩnh từ gồm các phương trình sau đây: (1.
Phân loại một số vật liệu từ Từ trường được định nghĩa bằng các đường sức từ, khi từ trường tương tác với bất kỳ loại vật liệu nào đó, số đường sức từ có thể tăng hoặc giảm. Nguồn từ trường theo đó có thể được khuếch đại hay giảm đi trong vật liệu như là kết quả của sự tương tác. Các chất khác nhau tương tác với từ trường ở mức độ khác nhau. Để biểu diễn mức độ tương tác của vật liệu với từ trường ngoài, người ta dựa vào công thức 1.
Thông qua công thức này người ta đưa ra khái niệm hệ số từ hóa là đại lượng đặc trưng cho mức độ bị từ hóa của vật liệu. Dựa vào giá trị của hệ số này, các vật liệu từ thường được chia làm ba nhóm, bao gồm vật liệu nghịch từ, thuận từ và sắt từ. Nhóm vật liệu sắt từ có thể được coi là lớp con của thuận từ nhưng vẫn được tách riêng bởi có những tính chất từ quan trọng [1, 2, 20]. Vật liệu nghịch từ Như ta đã biết, hiệu ứng nghịch từ có ở mọi nguyên tử đặt trong từ trường ngoài.
Do đó tính chất nghịch từ có ở mọi chất. Tuy nhiên, tính chất nghịch từ sẽ thể hiện rõ chủ yếu ở những chất mà khi chưa đặt trong từ trường ngoài, tổng mô-men từ nguyên tử (hay phân tử) của chúng bằng 0, nghĩa là mọi mô-men từ quỹ đạo và mô-men từ spin hoàn toàn triệt tiêu lẫn nhau. Đó là những chất khí hiếm (He, Ne, Ar, Kr, Ze, Rn) hoặc các ion (Na+, Cl-) có các lớp điện tử giống 14 như khí hiếm. Tính chất nghịch từ cũng thể hiện ở cả một số chất có mô-men từ nguyên tử chiếm ưu thế so với hiệu ứng thuận từ như Cu, Ag, Sb, Bi.
Ngoài ra, các chất như Pb, Zn, Si, Ge, S, CO2, H2O, thủy tinh và đa số các hợp chất hữu cơ cũng là các chất nghịch từ. Khi được đặt trong từ trường ngoài, từ độ của các vật liệu này là rất yếu và ngược hướng với từ trường ngoài. Độ cảm từ có giá trị âm nằm trong khoảng từ -10-6 tới -10-4 và không thay đổi theo nhiệt độ. Vật liệu thuận từ Khác với chất nghịch từ, chất thuận từ khi bị từ hóa sẽ sinh ra một từ trường phụ hướng cùng chiều với từ trường ngoài.
Tính chất này thể hiện ở những chất mà khi chưa có từ trường ngoài, mô- men từ nguyên tử (hay phân tử) của chúng khác 0. Đó là những chất như các kim loại kiềm (Na, K,…), Al, NO, Pt, O2, N2, các nguyên tố đất hiếm,… Khi chưa đặt khối vật liệu thuận từ vào trong từ trường ngoài, theo lý thuyết Langevin, do chuyển động nhiệt, các mô-men từ nguyên tử sắp xếp hoàn toàn hỗn loạn nên tổng mô-men từ của cả khối thuận từ bằng 0. Khi đặt khối vật liệu thuận từ vào trong từ trường ngoài, các mô-men từ nguyên tử có xu hướng sắp xếp theo hướng của từ trường ngoài. Tuy nhiên chuyển động nhiệt lại có xu hướng làm cho chúng sắp xếp hỗn loạn.
Dưới tác dụng đồng thời của cả hai nguyên nhân trên, các mô-men từ nguyên tử sẽ sắp xếp có thứ tự hơn theo hướng của từ trường ngoài, tạo ra một mô-men từ tổng trong khối vật liệu thuận từ, mô-men từ tổng này sẽ biến mất khi từ trường ngoài được loại bỏ.