Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về từ mới Chương 2: Những nội dung từ mới thuộc về văn hóa hữu hình phản ánh sự biến đổi xã hội Việt Nam Chương 3: Những nội dung từ mới thuộc về văn hóa phi hữu hình phản ánh sự biến đổi xã hội Việt Nam 7 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỪ MỚI 1. Dẫn nhập Từ là đơn vị tồn tại hiển nhiên, sẵn có của ngôn ngữ. Do tính chất hiển nhiên, có sẵn của các từ cho nên ngôn ngữ của loài người bao giờ cũng được coi là ngôn ngữ của các từ. Chính tổng thể các từ là vật liệu xây dựng nên thiếu nó thì không thể hình dung được một ngôn ngữ.
Có thể thừa nhận một định nghĩa chung về từ như sau: ―Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức‖ [3, tr. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan niệm về từ mới như thế nào trong hệ thống lĩnh vực nghiên cứu từ mới? Chúng tôi sẽ tiến hành thảo luận cụ thể trong luận văn. Lịch sử tình hình nghiên cứu về từ mới 1. Trong Việt ngữ học Xét về lịch sử vấn đề, chúng ta đề cập đến từ mới như là một lớp từ để phân biệt với lớp từ cổ.
Như vậy, các lớp từ mới ở trên trục lịch đại phân biệt với từ cổ là những từ đã được dùng một thời và bây giờ không còn được dùng nữa, còn từ mới là những từ mới được xuất hiện và có thể thuộc nhiều loại khác nhau, nhưng tính về thời gian là những từ xuất hiện chưa lâu trong ngôn ngữ nghiên cứu. Trong Việt ngữ học, theo hiểu biết của chúng tôi, có lẽ người đầu tiên đề cập đến từ mới là Nguyễn Văn Tu trong cuốn giáo trình Từ và vốn từ tiếng 8 z Việt xuất bản năm 1976. Trong cuốn sách này, Nguyễn Văn Tu nhận diện từ mới và phân chia từ mới thành hai loại chính: - Những từ mới chỉ tên mới để chỉ những sự vật, hiện tượng mới xuất hiện trong xã hội như: máy kéo, nguyên tử, tên lửa…. - Những từ mới dùng để chỉ những sự vật hoặc hiện tượng, trước đây đã xuất hiện, nay lại được tạo ra một tên gọi hoặc một từ mới để thay thế hoặc tồn tại song song với những từ đã có.
Ví dụ: tên lửa thay cho hỏa điện, máy thu thanh thay cho radio, chắn bùn thay cho gác - đơ - bu, chắn xích thay cho gác – đơ – xen, bởi vì những từ này là từ thường do người Việt tạo ra để thay thế cho những từ tiếng nước ngoài. Còn một loại nữa theo Nguyễn Văn Tu là những từ dùng để thay thế những từ đã có cách diễn đạt mới. Đó là loại từ mới thuộc về tu từ học hay là những từ ngữ nghệ thuật. Ví dụ: bà tiên hòa bình, ga trăng… thường tồn tại trong tác phẩm văn học [8, tr.
Sau Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Thiện Giáp cũng có quan niệm về từ mới. Ông cho rằng: từ mới là những từ thực sự được coi như là mang màu sắc mới, được thừa nhận từ là vừa mới xuất hiện, tính chất riêng của nó vẫn còn được mọi người thừa nhận. Đại đa số từ mới xuất hiện không được người nói nhận thức là có màu sắc mới, bởi vì nếu đó là những từ sáng tạo ngôn ngữ thành công và nếu đối tượng hoặc hiện tượng mà chúng biểu thị chắc chắn đã đi vào đời sống xã hội thì những từ ngữ đó nhanh chóng được mọi người sử dụng 9 z như những từ bình thường khác, được nhanh chóng nhập vào lớp từ vựng tích cực của toàn dân hay nghề nghiệp nào đó. Như: đài phát thanh, báo chí, máy thu hình.
là những phương tiện có thể truyền bá thông tin đại chúng một cách nhanh chóng và rộng rãi. Những từ ngữ mới có thể chỉ là những tên gọi định danh thuần túy, ví dụ: bộ nhớ ngoài, bộ nhớ trong, bộ vi xử lý, cổ đông, cổ phần, cổ phiếu.; cũng có thể là những tên gọi định danh tu từ của đối tượng, như: ăng ten rổ rá, đề bạt chui, văn minh tắm, viêm mạng túi. Trong cuốn sách 777 Khái niệm Ngôn ngữ học, ông cũng có nhắc đến: ―từ ngữ mới là những từ xuất hiện gần đây nhất, là từ xuất hiện mới nhất, cho nên chưa được quen thuộc và chưa được dùng phổ biến‖. Do đó, căn cứ vào đối tượng mà những từ ngữ này biểu thị có thể chia chúng thành hai loại: Thứ nhất là từ ngữ mới biểu thị những sự vật, hiện tượng hay khái niệm mới nảy sinh.
Thí dụ: lưu sinh học, cổ đông, trường sinh học, tên lửa, vệ tinh, điện thoại di động, v.v… Những từ ngữ này cần thiết trong giao tiếp nên chúng dễ dàng trở thành từ vựng tích cực. Những từ ngữ là tên gọi mới của những đối tượng đã có tên gọi. Những từ này phổ biến và quen dùng, sẽ nhập vào từ vựng tích cực nếu chúng hay hơn những tên gọi cũ, và đặc biệt chúng phản ánh đúng bản chất của đối tượng hơn những tên gọi cũ. Chẳng hạn, chúng ta thay cu li bằng công nhân, dân cày bằng nông dân, người ở bằng người giúp việc, đầu bếp bằng cấp dưỡng, địa dư bằng địa lí, địa đồ bằng bản đồ, v.
Những từ ngữ này sẽ có 10 z thể phản ánh bản chất thực tế của đối tượng hơn những từ ngữ trước đã có. Thứ hai là chúng ta cần phân biệt tên gọi thuần túy định danh và tên gọi mới có tính chất định danh – tu từ. Những thí dụ vừa dẫn ở trên là những tên gọi mới thuần túy định danh, còn tên gọi mới có tính chất định danh – tu từ, chẳng hạn như ga trăng “mặt trăng”, đường mây “đường bay của máy bay”, sao lửa “lửa đạn trên không”, phi vũ công “phi công‖… ngoài nội dung trí tuệ, những tên gọi định danh – tu từ còn mang cả giá trị biểu cảm nữa [3, tr. Quan niệm của một nhóm tác giả gần đây nhất trong cuốn sách Nhập môn Ngôn ngữ học do Mai Ngọc Chừ chủ biên cũng đã có quan niệm về từ mới.
Đó là: ― từ vựng mới là từ vựng mới xuất hiện từ những năm gần đây, từ vựng mới có thể có phạm vi phổ biến chưa cần và mới chỉ được dùng ở một phạm vi nào đó‖ [1, tr. Ví dụ: hộ chiếu, cổ phiếu, thị trường, chứng khoán, lên sàn. là những từ mới xuất hiện trong từ vựng tiếng Việt. Với sự phát triển của xã hội, từ vựng mới dễ dàng trở thành từ vựng tích cực của ngôn ngữ.
Từ vựng mới có thể được xuất hiện theo nhiều phương thức khác nhau, ví dụ như: - Vay mượn: imeo, chat,. - Cấu tạo mới theo phương thức cấu tạo từ của ngôn ngữ: đầu tư cổ phiếu, giao dịch cổ phiếu,. - Rút gọn: vấn nạn,. - Chuyển nghĩa: máy sống, sàn giao dịch.‖ Trong lịch sử tiếng Việt có lẽ việc nghiên cứu từ mới công phu hơn cả 11 z là luận án của Bùi Thị Thanh Lương với tiêu đề: ―Từ mới xuất hiện trong tiếng Việt giai đoạn 1986 -2005‖ [5].
Tác giả luận án sau khi khảo sát qua tình hình nghiên cứu từ mới trong và ngoài nước, đã nhìn nhận và đi đến nhiều kết luận có ý nghĩa về từ mới. Đây là những kết luận mà chúng tôi coi là rất có giá trị, đồng thời chúng tôi cũng sử dụng đó làm cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu luận văn của mình. Khái niệm từ mới được nhiều nhà nghiên cứu cũng như chúng tôi đặc biệt quan tâm. Vấn đề này được coi là phức tạp và nhạy cảm bởi có nhiều ý kiến trái chiều của nhiều người với nhiều quan điểm khác nhau.
Trước tình hình đó, để việc thu tập tư liệu và triển khai nội dung luận văn được nhất quán, rõ ràng, chúng tôi kế thừa và phát triển quan niệm về từ ngữ mới của tập thể tác giả cuốn Từ điển từ mới tiếng Việt của viện Ngôn ngữ học do Chu Bích Thu chủ biên. Trong Hán ngữ học Trong Hán ngữ học cũng có nhiều tác giả bàn thảo về từ mới. Ở đây, trong luận văn này, do thời gian có hạn, trong tiếng Hán, chúng tôi chỉ dẫn quan điểm của tác giả Diêu Hán Minh – một tác giả có nhiều đóng góp trong công tác nghiên cứu tiếng Hán. Diêu Hán Minh có quan niệm về từ ngữ mới như sau: ―từ ngữ mới là những từ ngữ chưa từng xuất hiện trong kho từ vựng vốn có của ngôn ngữ và sự xuất hiện của từ mới là sự phá vỡ những chuẩn mực vốn có của ngôn ngữ‖.
12 z Đồng thời, ông khẳng định: ―vốn từ vựng phải không ngừng tạo ra những từ mới để phản ánh những sự vật mới, quan điểm mới liên tục xuất hiện cũng cần phải không ngừng đào thải những từ cũ, nghĩa cũ hay thay đổi nghĩa từ về độ sâu, về phạm vi sử dụng và sắc thái tốt xấu để có thể giao tiếp một cách thích hợp, phải không ngừng sử dụng những hàm nghĩa và cách dùng mới của những từ vốn có cũng như cách kết hợp mới giữa các từ mới hay sự biến đổi sắc thái các tu từ để làm phong phú cách diễn đạt ngôn ngữ và hoàn thiện chức năng làm công cụ giao tiếp của ngôn ngữ‖ [6, tr. Để quan điểm của mình được rõ ràng hơn, Diêu Hán Minh đưa ra bốn nguyên tắc mà ông gọi là: ―nguyên tắc chuẩn hóa từ ngữ mới‖. Đây chính là những tiêu chí xác định từ mới, cụ thể là: 1) Nguyên tắc lấp chỗ trống, tức là: ―Trong vốn từ vựng của tiếng Phổ thông không có những từ mới như vậy, nhưng do sự phát sinh của sự vật mới, khái niệm mới, cần có những từ ngữ diễn đạt sự vật mới, khái niệm mới này, nếu không có những từ ngữ đó sẽ dẫn đến sự thiếu sót trong giao tiếp‖ [6, tr. Những từ mới chính là những từ lấp vào chỗ trống, chúng là một loạt những từ ngữ bức thiết nhất trong số những từ mới.
2) Nguyên tắc tính minh xác: ―là điều kiện cơ bản của từ mới để xã hội có thể chấp nhận‖. Vì các từ mới được hình thành trên cơ sở các ―ngữ tố‖ – yếu tố cấu tạo từ - đều là những ngữ tố đã được nhiều người quen biết và được dùng trong thế đối lập với những từ ngữ đã hình thành trước đó, nên người sử dụng tiếng Hán có thể tiếp nhận rất nhanh [6, tr.