Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT VỀ TIẾP XÚC NGÔN NGỮ VÀ TỪ GỐC HÁN Ở chƣơng này chúng tôi bƣớc đầu trình bày một vài khái niệm liên quan đến lớp từ vựng gốc Hán để làm cơ sở khi tiến hành nghiên cứu thực hiện các chƣơng sau.Tiếp theo, chúng tôi trình bày khái quát về lịch sử tiếp xúc giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ nhƣ lịch sử tiếp xúc giữa tiếng Việt với tiếng Hán, lịch sử tiếp xúc giữa tiếng Việt với tiếng Nhật để từ đó thấy đƣợc tầm quan trọng của lớp từ gốc Hán trong tiếng Việt hiện nay. Vấn đề tiếp xúc giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ 1. Lịch sử tiếp xúc giữa tiếng Việt với tiếng Hán Kết quả của giới nghiên cứu trong nhiều năm qua cho thấy, tiếng Việt và văn tự Hán đã có một quá trình giao lƣu, tiếp xúc ngôn ngữ diễn ra lâu dài trong lịch sử. Sự tiếp xúc này thông qua nhiều con đƣờng và nhiều giai đoạn khác nhau.
Có thể chia quá trình tiếp xúc này làm hai giai đoạn chính. Giai đoạn 1 là trƣớc và trong một nghìn năm Bắc Thuộc, đƣợc tính từ thế kỷ 10 trở về trƣớc. Giai đoạn 2 là giai đoạn trong 1000 năm độc lập và tự chủ, đƣợc tính từ thế kỷ 10 đến đầu thế kỉ XX. Quá trình tiếp xúc lần đầu tiên giữa tiếng Việt và tiếng Hán bắt đầu từ thời thƣợng cổ, lúc đầu sự giao lƣu tiếp xúc còn mang tính chất tự phát, tự nhiên qua con đƣờng khẩu ngữ và còn lẻ tẻ giữa cƣ dân vùng miền Bắc nƣớc ta với cƣ dân vùng ngƣời Hán.
Cho đến khi Triệu Đà mang quân xâm lƣợc Âu Lạc (-179) và thống trị thì quá trình tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ Việt- Hán có quy mô hơn và lƣu lại ảnh hƣởng sâu đậm hơn. Sau khi giành đƣợc thắng lợi trong cuộc tấn công Âu Lạc, Triệu Đà bắt đầu thiết lập chính quyền phong kiến trên đất nƣớc ta, bộ máy thống trị ngƣời Việt ngày càng có quy mô cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Mục đích là để cho ngƣời Hán sống xen lẫn với cƣ dân Việt nhằm dần dần đồng hóa nền văn hóa dân tộc, trong đó có cả ngôn ngữ. Cùng với chính sách cai trị của chính quyền nhà Hán, dân di cƣ đến vùng đất phía Nam ngày càng đông và dần thâm nhập vào mọi mặt 7 hoạt động của ngƣời Việt.
Đó là nguyên nhân tạo nên giai đoạn tiếp xúc sơ kì giữa ngôn ngữ văn hóa Hán cổ với ngôn ngữ và văn hóa Việt cổ. Đây cũng là một trong những nhân tố làm cho đợt tiếp xúc này có thêm ảnh hưởng sâu đậm, nhất là ở những lị sở, cư dân tập trung đông đúc. Kết quả của đợt tiếp xúc sơ kì này là tiếng Việt xuất hiện một số từ vay mƣợn của tiếng Hán, mà các nhà ngôn ngữ học thƣờng gọi là cổ Hán Việt hoặc Tiền Hán Việt. Số lƣợng từ này tuy không nhiều và còn rời rạc nhƣng cũng đủ để cho ta thấy đƣợc chính sách ngôn ngữ văn tự của các triều đại Trung Hoa luôn muốn làm cho xã hội bản địa ngày càng thêm Hán hóa trong tất cả mọi lĩnh vực, từ phong tục lễ nghi đến ngôn ngữ, thói quen sinh hoạt hàng ngày… nhất nhất chúng bắt ta học theo ngƣời Hán.
Bƣớc vào thời kì Đông Hán, dƣới sự chủ trì của Sĩ Nhiếp – ngƣời đƣợc các nhà Nho Việt Nam thời phong kiến sau này phong cho danh hiệu Nam giao học tổ, nhiều trƣờng dạy học chữ Hán cho ngƣời Việt đƣợc mở ra, việc học hành thi cử đƣợc đẩy mạnh, giáo dục phát triển. Nội dung các sách Tứ thư, Ngũ kinh, Bách gia chư tử… đều đƣợc đƣa vào giảng dạy cho ngƣời Việt. Song song với việc phát triển giáo dục thì Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo, Y học cũng đƣợc truyền bá rộng rãi và phổ biến ở Việt Nam. Chữ Hán nhờ đó cũng đƣợc ứng dụng rộng rãi hơn so với thời kì trƣớc đó.
Từ sau thời Hán, cho đến thời Lục triều, Tấn,Tùy Đƣờng, chế độ khoa cử đƣợc thiết lập, ngày càng có nhiều ngƣời học hành và đỗ đạt ra làm quan. Nhờ có chế độ khoa cử ấy đã xuất hiện một tầng lớp am hiểu chữ Hán, tinh thông cả Đạo giáo, Nho giáo, Phật giáo.Việc dạy và học chữ Hán lúc này đã trở thành nhu cầu thực sự trên vùng đất Giao Chỉ lúc bấy giờ. Nhƣ vậy, tầng lớp Nho sĩ, Đạo sĩ và tăng lữ Phật giáo là lực lƣợng chủ yếu truyền bá ngôn ngữ Hán tích cực nhất thời kì này. Phạm vi sử dụng chữ Hán không chỉ bó hẹp trong các tầng lớp Nho sĩ, mà dần dần đƣợc mở rộng ra ở nhiều tầng lớp khác trong dân gian.
Kết quả của đợt tiếp xúc lần này đã giúp cho tiếng Hán du nhập vào nƣớc ta có hệ thống hơn. Lúc này 8 âm đọc của ngƣời bản địa đƣợc dùng để đọc chữ Hán đã có tính quy luật và hệ thống. Giai đoạn này tạo nên một lớp từ vựng gốc Hán tƣơng đối dày dặn và có quy luật. Hệ thống từ gốc Hán của giai đoạn này đã để lại những dấu ấn rõ rệt trong lớp từ vựng của tiếng Việt hiện nay.
Sự nhập hệ của lớp từ này đƣợc thể hiện trên cả chiều kích ngữ âm đến ngữ nghĩa, đến mức ngƣời bản địa coi đó nhƣ là những yếu tố bản địa. Có thể thấy rõ điều này qua một số đối ứng giữa âm Hán Việt và âm Tiền Hán Việt nhƣ sau: Mối quan hệ -ang (AHV) -ông (THV): 扛giang gồng, 杠giang gông, 江giang sông, 缸cang coóng, 茫mang mông (minh mang/ mênh mông). Mối quan hệ chung âm -n (AHV) < -j (THV): tiên < tươi鮮, lãn < lười懶, nhãn < ngươi 眼, nhânngười人, quan/ gon<cói菅. [6, 256] Mối quan hệ -i ~ -ơ: 棋kì ~ cờ (con-), 旗kì ~ cờ (lá-), 機ki ~ cơ (- quan), 絲ti ~ tơ (sợi-), 陂bi ~ bờ, 疑nghi ~ ngờ, 詩thi ~ thơ,䯱phi ~ phờ (bơ-), 譏 ki/ cơ ~ quở, 揮huy ~ huơ/ quơ, 夷di ~ rợ.
[6: 77-78] Sau thời kì Bắc thuộc, mảnh đất phƣơng Nam ứng với Bắc bộ và Bắc Trung bộ ngày nay bƣớc vào thời kì độc lập và tự chủ. Đây đƣợc xem là giai đoạn tiếp xúc lần thứ hai với văn tự Hán.Tuy là giai đoạn độc lập và tự chủ, nhƣng các triều đại phong kiến đã chủ động sử dụng chữ Hán tiếng Hán làm văn tự chính thức quốc gia. 9 Chữ Hán không chỉ đƣợc sử dụng trong công văn hành chính nhà nƣớc, khoa cử, giáo dục, sáng tác văn học mà còn trở thành một vũ khí ngoại giao, trở thành một kháng thể văn hóa, để các triều đại củng cố văn hóa và nền độc lập dân tộc. Dùng chữ Hán để chống lại sự bành trƣớng của ngƣời Hán, ấy là một chủ trƣơng mang tầm viễn kiến lâu dài, tạo cơ sở cho một xã hội non trẻ dần dần trở nên vững mạnh.
Cho nên, ở giai đoạn này chữ Hán vẫn tiếp tục đƣợc sử dụng, vai trò của ngôn ngữ văn tự Hán ngày càng đƣợc củng cố và phát triển hơn. Điểm khác biệt của giai đoạn này đó là một đợt tiếp xúc ngôn ngữ văn hóa một cách chủ động, trái với giai đoạn trƣớc đó là sự cƣỡng bức, áp đặt. Các triều đại phong kiến Việt Nam từ Đinh-Lê- Lý- Trần cho đến Lê- Nguyễn về sau đều thực hiện chính sách song văn tự (chữ Hán- chữ Nôm), song ngôn ngữ (tiếng Hán và tiếng Việt), song văn hóa (văn hóa Hán và văn hóa bản địa). Dƣới ảnh hƣởng của các chính sách này, chữ Hán, tiếng Hán vẫn luôn đƣợc coi trọng, và làm công cụ đắc lực để ban bố các sắc lệnh, truyền đạt tin tức, truyền bá tƣ tƣởng.
Bên cạnh đó, thi cử vẫn là Hán học, Nho học. Chữ Hán lúc này trở thành thứ văn tự chính thống của quốc gia.Chữ Hán, tiếng Hán hành chức trên nhiều phƣơng diện: (a) Tiếng Hán đƣợc sử dụng nhƣ là ngôn ngữ hành chính quốc gia, sử dụng trong các văn bản hành chính từ trung ƣơng đến địa phƣơng với hàng chục các thể loại văn bản nhƣ chế, cáo, biểu, tấu, sớ, chiếu, hịch…, (b) Đƣợc coi là ngôn ngữ- văn tự chính thống cho hệ thống giáo dục các cấp, từ sách giáo khoa cho đến hệ thống kinh điển và thi cử. (c) Đƣợc sử dụng để biên soạn các bộ sử quan phƣơng của các triều đại, thể hiện quyền lực của nhà nƣớc đối với các diễn ngôn lịch sử. Kho tàng các tác phẩm sử học thời Trung đại còn lại đến nay là những ngữ liệu quan trọng cho thấy quá trình sử dụng Hán văn cũng nhƣ những dấu vết về sự ảnh hƣởng của tiếng Hán đến tiếng Việt.
Ví dụ nhƣ: Đại Việt sử kí toàn thư, Đại Việt sử kí tiền biên, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí… 10 (d) Tiếng Hán đƣợc sử dụng để biên soạn các văn bản pháp luật của nhà nƣớc.Ví dụ nhƣ các bộ sách: Hình luật thời Lý, Hồng Đức thời Lê sơ, … (e) Tiếng Hán đƣợc sử dụng để biên chép, truyền bá các tƣ tƣởng triết học của một số tôn giáo lớn nhƣ Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo hay dùng để ghi chép các hoạt động tín ngƣỡng dân gian. (f) Đƣợc sử dụng để sáng tác văn học với số lƣợng hàng ngàn tác gia, với hàng vạn tác phẩm lớn nhỏ. (g) Đƣợc sử dụng để ghi chép nhiều phƣơng diện của đời sống lịch sử- văn hóa- xã hội của Việt Nam trong thời gian mƣời thế kỷ, ví dụ nhƣ: y học, thiên văn, địa lý, toán học, làng nghề, … Trong khi đó, tiếng Việt và chữ Nôm, với tƣ cách là ngôn ngữ văn tự bản địa, cũng đã tồn tại song song trong đời sống văn hóa Đại Việt trong gần 1000 năm, đƣợc sử dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống. Quan trọng hơn cả là hệ thống các văn bản dịch thuật tôn giáo (cả Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Thiên Chúa giáo), các bản dịch sử học, luật pháp, hay văn học, từ văn bản dịch thuật sớm nhất là bản Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, Thiền tông khóa hư ngữ lục,…cho đến Chuyện các Thánh (hơn 4000 trang) của Majorica, Truyền kỳ mạn lục giải âm, Dịch kinh đại toàn tiết yếu diễn nghĩa (760 trang), Lễ kí đại toàn tiết yếu diễn nghĩa (680 trang), Xuân thu đại toàn tiết yếu diễn nghĩa (980 trang), Bắc Kì dân luật quốc âm dịch bản (860 trang), Đại Nam hội điển sự lệ quốc âm (1688 trang)…Quá trình dịch thuật, giảng sách từ Hán sang Việt có thể coi là một môi trƣờng lý tƣởng để tiếng Việt tự hoàn thiện.