Nghiên cứu Tự do hóa Tài chính ở Việt Nam trong giai đoạn hậu khủng hoảng kinh tế toàn cầu

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueh nghiên cứu tự do hóa tài chính ở việt nam trong giai đoạn hậu khủng hoảng kinh tế toàn cầu, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2009

103
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.3. Phương pháp nghiên cứu

0.4. Kết cấu của đề tài

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH VÀ KINH NGHIỆM TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

1.1. Tự do hóa tài chính và bong bóng tài sản trong một quốc gia

1.1.1. Khái lược về TDHTC

1.1.2. Khái niệm TDHTC

1.1.3. Bản chất TDHTC

1.1.4. Mối quan hệ giữa TDHTC và chiều sâu tài chính

1.2. Hiệu quả của tự do hóa tài chính

1.3. Mặt trái của TDHTC

1.3.1. Có thể làm tăng thêm khả năng gây ra khủng hoảng tài chính

1.3.2. Sự đảo ngược dòng vốn - “bong bóng” bị “xì hơi”

1.3.3. Tính biến động và xu hướng bầy đàn

1.4. Nội dung và trình tự quá trình TDHTC

1.4.1. Tự do hóa lãi suất

1.4.2. Tự do hóa tỷ giá hối đoái

1.4.3. Tự do hóa tài khoản vốn

1.4.4. Tự do hóa các dịch vụ tài chính

1.4.5. Trình tự tự do hóa tài chính

1.4.6. Tự do hóa tài chính và bộ ba bất khả thi

1.5. Quan điểm về TDHTC của các nước trên thế giới dưới tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu

1.6. Kinh nghiệm TDHTC ở một số nước trên thế giới và bài học cho Việt Nam

1.6.1. Kinh nghiệm TDHTC ở Trung Quốc

1.6.2. Kinh nghiệm tự do hóa dịch vụ tài chính ở Canada

1.6.3. Kinh nghiệm các nước khác về TDHTC

1.6.4. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình TDHTC

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ TDHTC Ở VIỆT NAM

2.1. Các tranh luận về TDHTC sau khủng hoảng ở Việt Nam

2.1.1. Kiểm soát vốn hoàn toàn

2.1.2. Tự do hóa tài chính thận trọng

2.2. Quá trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam

2.2.1. Tiến trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam

2.2.1.1. Lãi suất trước năm 1988
2.2.1.2. Lãi suất từ năm 1988 đến 2009

2.2.2. Kết quả đạt được từ quá trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam

2.2.3. Những hạn chế từ quá trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam

2.3. Quá trình tự do hóa tỷ giá hối đoái ở Việt Nam

2.3.1. Tiến trình tự do hóa tỷ giá hối đoái ở Việt Nam

2.3.2. Kết quả đạt được từ quá trình tự do hóa tỷ giá hối đoái ở Việt Nam

2.3.3. Những hạn chế từ quá trình tự do hóa tỷ giá hối đoái ở Việt Nam

2.4. Quá trình tự do hóa tài khoản vốn ở Việt Nam

2.4.1. Tiến trình tự do hóa tài khoản vốn ở Việt Nam

2.4.2. Kết quả đạt được từ tự do hóa tài khoản vốn ở Việt Nam

2.4.3. Những hạn chế từ tự do hóa tài khoản vốn ở Việt Nam

2.5. Quá trình tự do hóa dịch vụ tài chính ở Việt Nam

2.5.1. Tiến trình tự do hóa dịch vụ tài chính ở Việt Nam

2.5.2. Kết quả đạt được từ tự do hóa dịch vụ tài chính ở Việt Nam

2.5.3. Những hạn chế từ tự do hóa dịch vụ tài chính ở Việt Nam

2.5.3.1. Hạn chế từ hệ thống ngân hàng
2.5.3.2. Hạn chế từ hệ thống giám sát tài chính-ngân hàng
2.5.3.3. Hạn chế từ TTCK

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VỀ LỘ TRÌNH THỰC HIỆN TDHTC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. Quan điểm TDHTC trong giai đoạn hậu khủng hoảng

3.2. Xây dựng lộ trình TDHTC

3.3. Giải pháp thực hiện TDHTC

3.3.1. Hoàn chỉnh hệ thống luật của ngân hàng

3.3.2. Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống tài chính ngân hàng

3.3.2.1. Cơ cấu lại hệ thống ngân hàng
3.3.2.2. Hoàn thiện hệ thống giám sát tài chính - ngân hàng

3.3.3. Gia tăng chiều sâu tài chính của quốc gia

3.3.3.1. Phát triển thị trường cổ phiếu ở Việt Nam hiện nay
3.3.3.2. Phát triển thị trường trái phiếu ở Việt Nam hiện nay
3.3.3.3. Phát triển thị trường công cụ tài chính phái sinh ở Việt Nam hiện nay

3.3.4. Các giải pháp khác

3.3.4.1. Chủ động phòng chống những nguy cơ khi TDHTC
3.3.4.1.1. Nguy cơ mất giá nội tệ
3.3.4.1.2. Nguy cơ đảo ngược dòng vốn
3.3.4.1.3. Nguy cơ vỡ nợ
3.3.4.2. Đảm bảo an toàn khi tự do hóa tài khoản vốn
3.3.4.3. Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng thị trường tài chính
3.3.4.4. Minh bạch thông tin

PHẦN KẾT LUẬN

Danh mục tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng quan về Nghiên cứu Tự do hóa Tài chính ở Việt Nam

Nghiên cứu về Tự do hóa tài chính ở Việt Nam sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu là một chủ đề quan trọng. Quá trình này không chỉ ảnh hưởng đến nền kinh tế mà còn tác động đến các chính sách tài chính của quốc gia. Tự do hóa tài chính giúp tạo ra một môi trường đầu tư minh bạch và hiệu quả hơn, thu hút vốn đầu tư nước ngoài và thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rõ về những thách thức và rủi ro đi kèm.

1.1. Khái niệm và Bản chất của Tự do hóa Tài chính

Tự do hóa tài chính là quá trình xóa bỏ các rào cản trong việc phân bổ nguồn lực tài chính. Điều này bao gồm việc cho phép các định chế tài chính tự do xác định lãi suất và giảm thiểu các quy định về dự trữ bắt buộc. Mục tiêu là tạo ra một hệ thống tài chính linh hoạt và hiệu quả hơn.

1.2. Tác động của Tự do hóa Tài chính đến Kinh tế Việt Nam

Tự do hóa tài chính có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc gia tăng đầu tư và cải thiện hiệu quả sử dụng vốn. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng quá trình này có thể dẫn đến những rủi ro như khủng hoảng tài chính nếu không được quản lý chặt chẽ.

II. Vấn đề và Thách thức trong Tự do hóa Tài chính ở Việt Nam

Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình tự do hóa tài chính. Những vấn đề này bao gồm sự thiếu hụt về cơ sở hạ tầng tài chính, sự không đồng bộ trong các chính sách và quy định, cũng như sự thiếu hụt về năng lực quản lý rủi ro. Những yếu tố này có thể cản trở quá trình tự do hóa và làm giảm hiệu quả của các chính sách tài chính.

2.1. Những Rào cản Pháp lý trong Tự do hóa Tài chính

Các quy định pháp lý hiện tại vẫn còn nhiều hạn chế, cản trở sự phát triển của thị trường tài chính. Việc cải cách các quy định này là cần thiết để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tự do hóa.

2.2. Quản lý Rủi ro trong Tự do hóa Tài chính

Quản lý rủi ro là một yếu tố quan trọng trong quá trình tự do hóa tài chính. Cần có các biện pháp hiệu quả để giảm thiểu rủi ro và đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính.

III. Phương pháp và Giải pháp cho Tự do hóa Tài chính

Để thực hiện tự do hóa tài chính hiệu quả, Việt Nam cần áp dụng các phương pháp và giải pháp cụ thể. Điều này bao gồm việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao năng lực quản lý tài chính và phát triển các công cụ tài chính mới. Các giải pháp này sẽ giúp tối ưu hóa lợi ích từ quá trình tự do hóa.

3.1. Hoàn thiện Hệ thống Pháp luật về Tài chính

Cần có các cải cách pháp luật để tạo ra một khung pháp lý rõ ràng và minh bạch cho các hoạt động tài chính. Điều này sẽ giúp thu hút đầu tư và nâng cao hiệu quả của thị trường tài chính.

3.2. Nâng cao Năng lực Quản lý Tài chính

Nâng cao năng lực quản lý tài chính là cần thiết để đảm bảo rằng các chính sách tự do hóa được thực hiện một cách hiệu quả. Cần đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực tài chính.

IV. Ứng dụng Thực tiễn và Kết quả Nghiên cứu về Tự do hóa Tài chính

Nghiên cứu về tự do hóa tài chính ở Việt Nam đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực. Các ứng dụng thực tiễn từ quá trình này đã giúp cải thiện hiệu quả hoạt động của hệ thống tài chính và thu hút đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, cũng cần tiếp tục theo dõi và đánh giá để đảm bảo sự bền vững.

4.1. Kết quả Đạt được từ Tự do hóa Tài chính

Quá trình tự do hóa đã giúp tăng cường khả năng cạnh tranh của các định chế tài chính và cải thiện chất lượng dịch vụ tài chính. Điều này đã tạo ra nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp.

4.2. Những Bài học Kinh nghiệm từ Tự do hóa Tài chính

Các bài học từ quá trình tự do hóa tài chính ở các nước khác có thể được áp dụng để cải thiện quá trình này ở Việt Nam. Cần học hỏi từ những thành công và thất bại của các quốc gia khác.

V. Kết luận và Tương lai của Tự do hóa Tài chính ở Việt Nam

Tương lai của tự do hóa tài chính ở Việt Nam phụ thuộc vào khả năng quản lý và điều chỉnh các chính sách tài chính. Cần có một lộ trình rõ ràng và các biện pháp cụ thể để đảm bảo rằng quá trình này diễn ra một cách bền vững và hiệu quả. Việc theo dõi và đánh giá liên tục sẽ giúp tối ưu hóa lợi ích từ tự do hóa.

5.1. Tương lai của Tự do hóa Tài chính ở Việt Nam

Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh quá trình tự do hóa tài chính để hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu. Điều này sẽ giúp nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

5.2. Các Khuyến nghị cho Chính sách Tài chính

Cần có các khuyến nghị cụ thể cho chính sách tài chính nhằm hỗ trợ quá trình tự do hóa. Điều này bao gồm việc cải cách các quy định và nâng cao năng lực quản lý tài chính.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh nghiên cứu tự do hóa tài chính ở việt nam trong giai đoạn hậu khủng hoảng kinh tế toàn cầu

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH VÀ KINH NGHIỆM TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 1.1 Tự do hóa tài chính và bong bóng tài sản trong một quốc gia 1.1 Khái lược về TDHTC 1.1 Khái niệm TDHTC TDHTC là quá trình xóa bỏ những kìm hãm và ràng buộc về mặt tài chính, hay nói cách khác TDHTC là quá trình để cho các công cụ của chính sách tiền tệ được vận hành theo cơ chế thị trường 1. Nếu Chính phủ các nước đánh thuế hoặc bóp méo thị trường vốn bằng cách sử dụng các công cụ như tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao, áp dụng mức trần lãi suất tiền gửi và cho vay, sử dụng trợ cấp tín dụng để thúc đẩy thực hiện các mục tiêu trước mắt của kế hoạch phát triển… thì nền kinh tế nước đó được coi là bị kìm hãm về mặt tài chính. Nghĩa là : - Cản trở sự phát triển của hệ thống tài chính theo chiều sâu. - Không làm tăng trưởng vốn đầu tư vì khả năng huy động tiết kiệm bị hạn chế.

- Tiền tệ bất ổn định và các tài sản tài chính không có tính thanh khoản v. Nói tóm lại, TDHTC là quá trình tháo gỡ những kìm hãm tài chính nhằm làm gia tăng chiều sâu tài chính và phát triển thị trường tài chính của một quốc gia.2 Bản chất TDHTC Nói một cách dễ hiểu hơn về bản chất của tự do hoá tài chính: đó là quá trình xoá bỏ các hạn chế, các định hướng hay ràng buộc trong việc phân bổ nguồn lực tín dụng. Mọi điều tiết trong quá trình phân bổ này đều được đặt trên nền tảng cơ chế giá, tức là các định chế tài chính được quyền tự do xác định lãi suất tiền gửi, cho vay.Kinnon Ronald I LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Điều này cũng bao hàm việc xoá bỏ các mức trần lãi suất cũng như các ràng buộc khác trong việc sử dụng nguồn vốn huy động được , giảm thiểu tỷ lệ dự trữ bắt buộc. TDHTC cũng đồng nghĩa với việc mở rộng cạnh tranh của các định chế tài chính, với việc chấm dứt sự phân biệt đối xử về pháp lý giữa những loại hình hoạt động khác nhau.3 Mối quan hệ giữa TDHTC và chiều sâu tài chính Chiều sâu tài chính là thuật ngữ dùng để chỉ quá trình phát triển các trung gian tài chính, bao gồm cả quá trình tự do hóa khu vực ngân hàng, và phát triển một thị trường cổ phiếu và trái phiếu năng động.

Tỷ số M3/GNP càng cao thì chiều sâu tài chính càng đáng kể. Tỷ số M3/GNP cao cho thấy một dòng vốn thực sự của các quỹ có khả năng cho vay trong nước dùng để tài trợ cho các dự án đầu tư mới 2. Ở các nước đang phát triển, do thị trường chứng khoán chưa phát triển nên thước đo chiều sâu tài chính là M2/GNP, thước đo trình độ chiều sâu tài chính tập trung chủ yếu chỉ vào lĩnh vực ngân hàng. Nhìn chung, các nước duy trì một lãi suất thực cao hơn và giá cả ổn định hơn đã có sự tăng trưởng tài chính thực sự lành mạnh hơn.

Số liệu ở bảng 1.1 sẽ thể hiện quan điểm này. Cả hai nhóm nước có nền kinh tế tăng trưởng chậm hoặc tăng trưởng thất thường đều có mức tài sản tài chính trong nước rất thấp, với tỷ số M3/GNP trung bình (từ năm 1960 đến 1985) vào khoảng 0,227. Ngược lại, ở các nước có nền kinh tế tăng trưởng nhanh như Nhật Bản, Đài Loan, Tây Đức và Singapore có tỷ số M3/GNP là 0,75 (vào năm 1985). Ronald I (1995), Trình tự tự do hóa kinh tế - Quản lý tài chính trong nền kinh tế chuyển đổi, Nhà xuất bản chính trị quốc gia LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Quỹ Ngân hàng có thể cho vay ở các nước kém phát triển điển hình.

Ronald I (1995), Trình tự tự do hóa kinh tế - Quản lý tài chính trong nền kinh tế chuyển đổi, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Bảng 1.2: Quỹ Ngân hàng có thể cho vay trong các nền kinh tế tăng trưởng nhanh. (Tỷ số M3 so với GNP) Tên nước/năm 1955 1960 1965 1970 1975 1980 1985 Tây Đức 0,331 0,294 0,448 0,583 0,727 0,913 1,019 Nhật Bản 0,554 0,737 0,701 0,863 1,026 1,390 1,599 Hàn Quốc 0,069 0,114 0,102 0,325 0,323 0,337 0,396 Đài Loan 0,115 0,166 0,331 0,462 0,588 0,750 1,264 Sin-ga-po - - 0,542 0,701 0,668 0,826 0,788 Nguồn: Mc. Ronald I (1995), Trình tự tự do hóa kinh tế - Quản lý tài chính trong nền kinh tế chuyển đổi, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Có một sự thống nhất chung giữa các nhà kinh tế là sự phát triển tài chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Một số nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng phát triển hệ thống tài chính góp phần tăng trưởng kinh tế (Rajan and Zingales, 2003).

Một nghiên cứu ở nhiều nước đang phát triển cho thấy rằng phát triển tài chính (bao gồm tài sản của các định chế tài chính trung gian, khả nă ng thanh toán của các tổ chức tài chính, khả năng vốn hóa thị trường cổ phiếu và trái phiếu, tín dụng trong nước cho khu vực tư nhân (domestic credit LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 to private sector) thì có quan ệh với tăng trưởng kinh tế một cách mạnh mẽ và tích cực (King and Levine, 1993; Levine and Zervos, 1998).2 Hiệu quả của tự do hóa tài chính TDHTC ở các nước đang phát triển được xem là một phần quan trọng và cần thiết của chính sách phát triển kinh tế. Cụ thể, TDHTC ở các nước đang phát triển đã làm tăng mức độ độc lập của ngân hàng trung ương, làm giảm sự áp chế tài chính bằng tự do hóa lãi suất và cải cách tài chính, giảm trợ cấp tín dụng, đồng thời tự do hóa dòng vốn. Ở hầu hết các nước đang phát triển, ngành ngân hàng thống trị hệ thống tài chính và thị trường chứng khoán nhưng không được phát triển tốt. Chính phủ hạn chế quyền lực của ngân hàng nên thường dẫn đến kết quả là lãi suất thực âm và dư cầu tín dụng, chính phủ hạn chế mức cho vay của ngân hàng.

Kết quả là tín dụng được phân bổ đến các thành phần kinh tế và các doanh nghiệp theo quyết định của chính phủ hơn là theo tính cạnh tranh của thị trường. Vì vậy, TDHTC sẽ có những mặt lợi sau: Việc quyết định lãi suất của thị trường sẽ dẫn đến kết quả lãi suất thực dương, điều này sẽ giúp gia tăng các nguồn lực có thể cho hệ thống tài chính bởi vì ngân hàng sẽ đưa ra mức lãi suất cạnh tranh để thu hút tiền gửi, hơn nữa với lãi suất thực dương sẽ thu hút nhiều người vay tiền để đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, vì thế sẽ cải thiện được nền kinh tế đất nước. Kết quả là TDHTC, thông qua ngân hàng, sẽ dẫn đến gia tăng vai trò trung gian tài chính về chất lượng và số lượng. TDHTC có thể khuyến khích phát triển kinh tế thông qua nhiều kênh khác nhau, bởi vì hệ thống tài chính thực hiện chức năng thu hút và luân chuyển nguồn vốn giúp đầu tư có hiệu quả, cụ thể: - TDHTC có khả năng thúc đẩy sự tăng trưởng do gia tăng mức độ đầu tư và nâng cao tỷ suất sinh lợi của đầu tư thông qua việc các nước này tiếp cận được với kinh nghiệm quản lý hiện đại, các thành quả khoa học trên thế giới và đặc biệt tiếp cận được tác động của thị trường hiệu quả.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - TDHTC cũng thúc đẩy tăng trưởng do khuyến khích các nhà đầu tư chuyển hướng vào đầu tư những dự án có rủi ro cao hơn (vì nhà đầu tư có thể đa dạng hoá các danh mục đầu tư của mình) để hưởng được tỷ suất lợi nhuận cao hơn. - TDHTC cho phép mọi cá nhân tự bảo hiểm chống lại sự phát triển không cân đối trong nền kinh tế nước chủ nhà bằng cách đa dạng hóa đầu tư và khai thác thị trường toàn cầu để làm dịu đi sự suy giảm tạm thời trong thu nhập. - TDHTC có thể thúc đẩy đầu tư ở các nước đang phát triển bằng cách giải bài toán giữa tiết kiệm và đầu tư trong một quốc gia. Trong một nền kinh tế đóng về mặt tài chính, đầu tư phải được tài trợ bằng tiết kiệm trong nước.

Hai yếu tố này cân xứng với nhau qua những chuyển biến của lãi suất thực, đó là chi phí vay nợ và suất sinh lợi từ tiết kiệm. Không có các dòng vốn quốc tế, thì không thể cho rằng sẽ có sự cân bằng suất sinh lợi từ đầu tư giữa các nước, điều này dẫn đến sự phân bổ sai các nguồn lực: ở cận biên, những dự án đầu tư có khả năng sinh lời cao ở một số nước có thể không được thực hiện vì thiếu vốn, trong khi những dự án có sinh lợi thấp hơn ở những nơi khác lại được cấp vốn. TDHTC cắt đứt mối liên kết giữa tiết kiệm địa phương và đầu tư địa phương, cho phép tiền tiết kiệm “chảy một cách đương nhiên và cấp kỳ tới nơi cần chúng nhất và tận dụng chúng nhất, giống như nước chảy đến chỗ trũng” (Bagehor 1924, trang 12). Các nhà đầu tư có thể đi vay và những người tiết kiệm có thể cho vay trên thị trường quốc tế, do vậy lãi suất toàn cầu sẽ trở thành chi phí sử dụng vốn (chi phí của vốn) và suất sinh lợi từ tiết kiệm tương xứng, chứ không phải lãi suất quốc gia.

Dĩ nhiên, tiết kiệm và đầu tư vẫn phải cân xứng, nhưng bây giờ chúng cân xứng trong phạm vi toàn cầu hơn là trong phạm vi quốc gia. Do vậy, những kết quả tiềm ẩn từ đầu tư cao hơn biến đổi từ quốc gia này đến quốc gia khác tuỳ thuộc vào tỷ suất sinh lợi của các cơ hội đầu tư và sự khác biệt giữa chi phí sử dụng vốn trong nước, thường rất cao trước khi tự do hóa so với chi phí sử dụng vốn quốc tế. - TDHTC làm gia tăng cái giá phải trả từ các lỗi lầm trong hoạch định chính sách và làm tăng thêm những ràng buộc và hạn chế đối với việc điều hành chính sách kinh tế vĩ mô ở các nước đang phát triển. Vì vậy, giúp thúc đẩy việc cải cách những chính LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 sách kinh tế vĩ mô tốt hơn, nâng cao hiệu lực của các chính sách này và kỷ luật của thị trường.

Kết quả của nhiều nghiên cứu đã cho thấy những lợi ích đề cập trên đây là thực tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ