Chương 1. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1. Giới thiệu về vật liệu xúc tác quang 1. Khái niệm xúc tác quang và cơ chế phản ứng Trong hóa học, khái niệm xúc tác quang dùng để nói đến những phản ứng xảy ra dưới tác dụng của chất xúc tác trong điều kiện có mặt ánh sáng (ánh sáng nhân tạo hoặc bức xạ tự nhiên của mặt trời),… Hay nói cách khác, ánh sáng chính là nhân tố kích hoạt chất xúc tác, giúp cho phản ứng xảy ra.
Khi có sự kích thích của ánh sáng, trong chất bán dẫn sẽ tạo ra cặp điện tử - lỗ trống và có sự trao đổi electron giữa các chất bị hấp phụ, thông qua cầu nối là chất bán dẫn. Xúc tác quang là một trong những quá trình oxi hóa nhờ tác nhân ánh sáng, trong khoảng hơn hai mươi năm trở lại đây ngày càng được ứng dụng rộng rãi và đặc biệt quan trọng trong xử lý môi trường. Theo lí thuyết vùng, cấu trúc điện tử của kim loại gồm có một vùng gồm những obitan phân tử liên kết được xếp đủ electron, được gọi là vùng hóa trị (Valance band-VB) và một vùng gồm những obitan phân tử liên kết còn trống electron, được gọi là vùng dẫn (Conduction band-CB). Hai vùng này được chia cách nhau bởi một hố năng lượng được gọi là vùng cấm, đặc trưng bởi năng lượng vùng cấm Eg (Band gap energy) chính là độ chênh lệch giữa hai vùng nói trên.
Sự khác nhau giữa vật liệu dẫn điện, cách điện và bán dẫn chính là sự khác nhau về vị trí và năng lượng vùng cấm. Vật liệu bán dẫn là vật liệu có tính chất trung gian giữa vật liệu dẫn điện và vật liệu cách điện, khi có một kích thích đủ lớn (lớn hơn năng lượng vùng cấm Eg), các electron trong vùng hóa trị của vật liệu bán dẫn có thể vượt qua vùng cấm nhảy lên vùng dẫn, trở thành chất dẫn điện có điều kiện. Nói chung những chất có Eg lớn hơn 3,5 eV là chất cách điện ngược lại những chất có Eg thấp hơn 3,5 eV là chất bán dẫn. Những chất bán dẫn có Eg thấp hơn 3,5 eV đều có thể làm e 6 chất xúc tác quang (photocatalysts) vì khi được kích thích bởi các photon ánh sáng có năng lượng lớn hơn năng lượng vùng cấm Eg, các electron hóa trị của chất bán dẫn sẽ nhảy lên vùng dẫn.
Kết quả là trên vùng dẫn sẽ có các electron mang điện tích âm, được gọi là electron quang sinh (photogenerated − electron 𝑒𝐶𝐵 ) và trên vùng hóa trị sẽ có các lỗ trống mang điện tích dương, + được gọi là lỗ trống quang sinh (photogenerated hole ℎ𝑉𝐵 ). Chính các electron quang sinh và lỗ trống quang sinh là nguyên nhân dẫn đến các quá trình hóa + học xảy ra bao gồm quá trình oxi hóa đối với ℎ𝑉𝐵 và quá trình khử đối với − 𝑒𝐶𝐵. Các electron quang sinh và lỗ trống quang sinh có khả năng phản ứng cao hơn so với các tác nhân oxi hóa-khử đã biết trong hóa học. Dưới tác dụng của ánh sáng có bước sóng thích hợp, các electron hóa trị của các chất bán dẫn bị tách khỏi liên kết từ vùng hóa chuyển đến vùng dẫn tạo ra lỗ trống khuyết điện tử (mang điện tích dương) ở vùng hóa trị.1) Các electron và lỗ trống chuyển đến bề mặt và tương tác với một số chất bị hấp thụ như nước và oxy tạo ra những chất tự do trên bề mặt chất bán dẫn.
Cơ chế phản ứng xảy ra như sau: hVB H 2O HO H (1.4) H 2O2 eCB HO HO (1.5) hVB HO HO (1.6) e 7 Các gốc tự do và sản phẩm trung gian tạo ra như HO, O2-, H2O2 đóng vai trò quan trọng trong cơ chế quang phân hủy các hợp chất hữu cơ, nấm khi tiếp xúc. Lỗ trống mang điện tích dương tự do chuyển động trong vùng hóa trị do các electron khác có thể nhảy vào lỗ trống để bão hòa điện tích, đồng thời tạo ra một lỗ trống mới ngay tại vị trí mà nó vừa đi khỏi. Các electron quang sinh trên vùng dẫn cũng có xu hướng tái kết hợp với các lỗ trống quang sinh trên vùng hóa trị, kèm theo việc giải phóng năng lượng dưới dạng nhiệt hoặc ánh sáng. Quá trình này làm giảm đáng kể hiệu quả xúc tác quang của vật liệu.
Gốc HO là một tác nhân oxi hóa rất mạnh, không chọn lọc và có khả năng oxi hóa hầu hết các chất hữu cơ. Quá trình phân hủy một số hợp chất hữu cơ gây ô nhiễm trên hệ xúc tác quang như sau: - Các chất bán dẫn dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời tạo ra các gốc và sản phẩm trung gian như HO,O2-, H2O2 (cơ chế đã trình bày phần trên). Các gốc và sản phẩm này oxi hóa các thành phần hữu cơ theo cơ chế sau: RH HO R H 2O (1.7) R O2 H 2O CO2 axit vô cơ (1.8) - Đối với hợp chất chứa nitơ dạng azo, phản ứng oxi hóa quang phân hủy xảy ra theo cơ chế sau: R N N R' HO R N N R' OH (1.11) R HO phân hủy (1. Quá trình oxi hóa hợp chất hữu cơ trên vật liệu xúc tác quang Hình 1.1 thể hiện quá trình quang xúc tác oxi hóa hợp chất hữu cơ.
Như vậy, sản phẩm của quá trình phân hủy chất hữu cơ gây ô nhiễm trên hệ xúc tác quang là khí CO2, H2O và các chất vô cơ. Tổng quan tình hình nghiên cứu vật liệu xúc tác quang Ag3VO4 và BiVO4 Trong những năm gần đây, một số hợp chất chứa bạc, như Ag2CO3, Ag2O, Ag3PO4, AgX (X=I, Br, Cl), α-AgVO3, β-AgVO3, Ag3VO4, Ag4V2O7,… được biết đến là những chất xúc tác quang tiềm năng cho các phản ứng tách nước và phân hủy chất hữu cơ ô nhiễm trong vùng ánh sáng nhìn thấy cũng được nghiên cứu rộng rãi. Kể từ khi Konta và cộng sự [35] báo cáo rằng Ag3VO4 cho thấy, hoạt tính xúc tác quang cho quá trình tạo O2. Tất cả các bạc vanadat đều cho thấy dải hấp phụ mạnh trong vùng ánh sáng khả kiến do sự chuyển đổi khoảng cách giữa các vùng năng lượng vùng cấm.
Vùng dẫn của Ag3VO4 bao gồm các obitan Ag 5s lai với obitan V 3d, và vùng hóa trị của nó bao gồm các obitan O 2p6 lai hóa với obitan Ag 4d10 được lấp đầy hoàn toàn, có thể tạo e 9 thành một vùng hóa trị ở mức năng lượng tích điện lớn hơn của obitan O 2p6. Mặt khác, trong oxit kim loại với cấu hình điện tử d10, phần dưới vùng dẫn bao gồm các obitan lai hóa s, p của kim loại, mặc dù vùng hóa trị cơ bản được hình thành bởi obitan O 2p. Các obitan lai hóa s, p có độ phân tán lớn, độ linh động của electron quang sinh tăng trong vùng dẫn nên thúc đẩy hoạt động xúc tác quang. Vì vậy, Ag3VO4 có hoạt tính xúc tác quang dưới ánh sáng nhìn thấy và có thể làm giảm tiêu thụ năng lượng đây cũng là chất xúc tác quang có tiềm năng oxy hóa mạnh và là ứng cử viên trong xử lý loại bỏ các chất hữu cơ độc hại trong môi trường.
Zou và các cộng sự đã tổng hợp thành công vật liệu composite Ag3VO4/TiO2 [51]. Các kết quả thí nghiệm cho thấy rằng, vật liệu với tỉ lệ 1% Ag3VO4/TiO2 được tổng hợp có khả năng phân hủy toluene đến 70% sau phản ứng 4 giờ. Đồng thời cho thấy hoạt động xúc tác quang chiếm ưu thế có thể được quy cho sự hấp thụ mạnh của nó trong vùng ánh sáng khả kiến do sự tách điện tích của chúng. Barzegar và các cộng sự đã tổng hợp thành công vật liệu nano composite g-C3N4/Ag3VO4/AgBr [15].
Các kết quả thí nghiệm cho thấy rằng, trong các vật liệu nano composite được tổng hợp thì vật liệu g-C3N4/Ag3VO4/AgBr với tỉ lệ 10% có hoạt tính quang xúc tác tối đa cho phản ứng phân hủy RhB với hằng số tốc độ 1366,6 x 10-4/phút, cao gấp 116 lần với g-C3N4; 7,23 lần với g-C3N4/AgBr (10%) và 38,5 lần so với g-C3N4/Ag3VO4 (30%). Mặc khác, kết quả thí nghiệm bẫy các gốc tự do cũng được đề cập đến trong nghiên cứu này, cụ thể người ta đã phát hiện ra rằng các gốc anion superoxide là loại phản ứng chiếm ưu thế. Do đó, vật liệu tổng hợp đã cho thấy khả năng hoạt động xúc tác quang vượt trội trong việc loại bỏ các chất ô nhiễm dưới ánh sáng khả kiến và cho thấy tiềm năng lớn để khắc phục môi trường bởi hiệu suất quang hóa chúng mang lại. e 10 Trong thời gian gần đây, các công trình nghiên cứu về BiVO4 cũng được công bố, các kết quả về khả năng phân hủy ibuprofen bằng xúc tác quang BiVO4 biến tính với kim loại dưới ánh sáng nhìn thấy được công bố vào năm 2014 bởi Z.
Bian và các cộng sự [54]. Vật liệu biến tính của BiVO4 với kim loại Cu và Ag có khả năng phân hủy ibuprofen cao, hơn thế nữa vật liệu BiVO4 biến tính làm giảm sự tái kết hợp electron và lỗ trống quang sinh. Sharma và các cộng sự đã tổng hợp thành công đơn tinh thể BiVO4 bằng phương pháp thủy nhiệt và có khả năng phân hủy mạnh dung dịch xanh metylen trong dung dịch nước dưới ánh sáng khả kiến cũng như hoạt động kháng khuẩn đối với Ecoli. Tế bào vi khuẩn giảm với sự gia tăng nồng độ hạt nano m-BiVO4 từ 20 ppm đến 80 ppm trong suốt thời gian 2 giờ.
Tốc độ phân hủy xanh metylen đã được tăng lên tối đa ba lần trong sự hiện diện của các hạt nano m-BiVO4 làm chất xúc tác [36]. Ngoài ra, phải kể đến một số công trình khác như: nghiên cứu thiết kế mô hình 3D h-BN với Ag3VO4 như chất ổn đinh và xúc tiến quang xúc tác của L. Xiaomeng và các cộng sự [28]. Tổng hợp composite CoFe2O4/Ag/Ag3VO4 của L.
Jing [23], hay composite BiVO4/FeVO4 được tổng hợp thành công bởi J. Li và các cộng sự [16],… Các kết quả chỉ ra rằng, khi được biến tính, hoạt tính xúc tác quang của Ag3VO4 và BiVO4 được cải thiện rõ rệt, điều này tăng cường việc ứng dựng thực tế của nhóm vật liệu này và chúng được nâng lên một tầm cao mới. Mặc dù vậy, các công bố về nghiên cứu tổng hợp và ứng dụng vật liệu composite Ag3VO4/BiVO4 vẫn chưa có công trình nào công bố trong nước. Giới thiệu về bismuth orthovanadate 1.
Đặc điểm cấu tạo và đặc tính của BiVO4 1. Đặc điểm cấu tạo của BiVO4 Hình 1.