Chương 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1. VẬT LIỆU XÚC TÁC QUANG 1. Khái niệm xúc tác quang Năm 1930, khái niệm xúc tác quang ra đời. Trong hóa học, khái niệm xúc tác quang dùng để nói đến những phản ứng xảy ra dưới tác dụng của chất xúc tác trong điều kiện có ánh sáng (ánh sáng nhân tạo hoặc bức xạ tự nhiên của mặt trời).
Nói cách khác, ánh sáng chính là nhân tố kích hoạt chất xúc tác, giúp cho phản ứng xảy ra. Khi có sự kích thích của ánh sáng, trong chất bán dẫn sẽ tạo ra cặp điện tử - lỗ trống và có sự trao đổi electron giữa các chất bị hấp phụ, thông qua cầu nối là chất bán dẫn. Cấu trúc các vùng năng lượng Theo lí thuyết vùng, cấu trúc điện tử của kim loại gồm có một vùng gồm những obitan phân tử liên kết được xếp đủ electron, được gọi là vùng hóa trị (Valance band - VB) và một vùng gồm những obitan phân tử liên kết còn trống electron, được gọi là vùng dẫn (Condutance band - CB). Hai vùng này được chia cách nhau bởi một hố năng lượng được gọi là vùng cấm, đặc trưng 6 bởi năng lượng vùng cấm Eg (Band gap energy) chính là độ chênh lệch giữa hai vùng nói trên.
Vị trí và năng lượng vùng cấm khác nhau giữa các vật liệu dẫn điện, cách điện và bán dẫn. Vật liệu bán dẫn là vật liệu có tính chất trung gian giữa vật liệu dẫn điện và vật liệu cách điện, khi có một kích thích đủ lớn (lớn hơn năng lượng vùng cấm Eg), các electron trong vùng hóa trị của vật liệu bán dẫn có thể vượt qua vùng cấm nhảy lên vùng dẫn, trở thành chất dẫn điện có điều kiện. Nói chung những chất có Eg lớn hơn 3,5 eV là chất cách điện và ngược lại, những chất có Eg thấp hơn 3,5 eV là chất bán dẫn [30]. Cơ chế phản ứng quang xúc tác Những chất bán dẫn có Eg thấp hơn 3,5 eV đều có thể làm chất xúc tác quang (photocatalysts) vì khi được kích thích bởi các photon ánh sáng có năng lượng lớn hơn năng lượng vùng cấm Eg, các electron hóa trị của chất bán dẫn sẽ nhảy lên vùng dẫn.
Kết quả là trên vùng dẫn sẽ có các electron mang điện tích âm, gọi là electron quang sinh (photogenerated electron e -CB) và trên vùng hóa trị sẽ có các lỗ trống mang điện tích dương, được gọi là lỗ trống quang sinh (photogenerated hole h+VB) [11]. Chính các electron quang sinh và lỗ trống quang sinh là nguyên nhân dẫn đến các quá trình hóa học xảy ra bao gồm quá trình oxi hóa đối với h+VB và quá trình khử đối với e-CB. Các electron quang sinh và lỗ trống quang sinh có khả năng phản ứng cao hơn so với các tác nhân oxi hóa - khử đã biết trong hóa học. Dưới tác dụng của ánh sáng có bước sóng thích hợp, các electron hóa trị của các chất bán dẫn bị tách khỏi liên kết từ vùng hóa trị (VB) chuyển đến vùng dẫn (CB) tạo ra lỗ trống khuyết điện tử (mang điện tích dương) ở vùng hóa trị.
C (chất bán dẫn) + hν → e-CB + h+VB 7 Các electron và lỗ trống chuyển đến bề mặt và tương tác với một số chất bị hấp thụ như nước và oxygen tạo ra những chất tự do trên bề mặt chất bán dẫn. Cơ chế phản ứng xảy ra như sau [23]: h +VB + H2O HO• + H+ e-CB + O2 hν • O2 - 2O-2 + 2H 2O hμ H 2O2 + 2HO- + O2 - H2O + eCB HO• + HO- h +VB + HO- HO• Các gốc tự do và sản phẩm trung gian tạo ra như HO• , • O-2 , H2O2, O2 đóng vai trò quan trọng trong cơ chế quang phân hủy các hợp chất hữu cơ, nấm khi tiếp xúc. Lỗ trống mang điện tích dương tự do chuyển động trong vùng hóa trị, do đó các electron khác có thể nhảy vào lỗ trống để bão hòa điện tích, đồng thời tạo ra một lỗ trống mới ngay tại vị trí mà nó vừa đi khỏi. Các electron quang sinh trên vùng dẫn cũng có xu hướng tái kết hợp với các lỗ trống quang sinh trên vùng hóa trị, kèm theo việc giải phóng năng lượng dưới dạng nhiệt hoặc ánh sáng.
Quá trình này làm giảm đáng kể hiệu quả xúc tác quang của vật liệu. Gốc HO• là một tác nhân oxi hóa rất mạnh, không chọn lọc và có khả năng oxi hóa hầu hết các chất hữu cơ. Quá trình phân hủy một số hợp chất hữu cơ gây ô nhiễm trên hệ xúc tác quang như sau: Các chất bán dẫn dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời tạo ra các gốc và sản phẩm trung gian như HO• , • O-2 , H2O2, O2 (cơ chế đã trình bày phần trên). Các gốc và sản phẩm này oxi hóa các thành phần hữu cơ theo cơ chế sau: RH + HO• R • + H2 O R • O2 H2O + CO2 + axit vô cơ 8 Đối với hợp chất chứa nitrogen dạng azo, phản ứng oxi hóa quang phân hủy xảy ra theo cơ chế sau: R-N=N-R ' + HO• R-N=N• + R ' -OH R-N=N-R ' + H• R-N=N• + R' -H R-N=N• R • + N2 • R • HO phân hủy Hình 1.
Quá trình oxi hóa hợp chất hữu cơ trên vật liệu xúc tác quang Hình 1.2 thể hiện quá trình quang xúc tác, oxi hóa hợp chất hữu cơ. Như vậy, sản phẩm của quá trình phân hủy chất hữu cơ gây ô nhiễm trên hệ quang xúc tác là khí CO2, H2O và các chất vô cơ. GIỚI THIỆU VỀ MELAMIN VÀ GRAPHIT CACBON NITRUA (g-C3N4) 1. Melamin Melamin là một base hữu cơ ít tan trong nước có công thức hóa học là C3H6N6, danh pháp theo IUPAC là 1,3,5-triazine-2,4,6-triamine [4].
Công thức cấu tạo melamin Melamin là trime của xyanamide. Giống như xyanamide, phân tử của chúng chứa 66% N theo khối lượng được chuyển hóa từ xyromazine trong cơ thể của động, thực vật. Melamin kết hợp với axit xyanuric tạo thành melamin xyanurate. Melamin được Liebig tổng hợp lần đầu tiên vào năm 1834.
Đầu tiên, canxi xyanamide được chuyển thành dixyandiamide sau đó đun nóng đến trên nhiệt độ nóng chảy để tạo thành melamin. Tuy nhiên, hiện nay các quy trình sản xuất melamin trong công nghiệp đều dùng ure theo phương trình phản ứng sau: 6 (NH2)2CO → C3H6N6 + 6 NH3 + 3 CO2 Melamin khi phản ứng với formaldehyd tạo thành keo melamin. Melamin cũng được sử dụng trong ngành công nghiệp phân bón. Khi trộn lẫn với một số nhựa, chúng tạo thành hỗn hợp có khả năng chống cháy do khi cháy chúng giải phóng ra một lượng khí nitrogen.
Melamin và muối của nó được sử dụng như chất phụ gia chống cháy trong các loại sơn, nhựa và giấy. Đặc điểm cấu tạo g-C3N4 Vật liệu graphit cacbon nitrua (g-C3N4) bao gồm các khối xếp chồng lên nhau dọc theo trục c của những mặt graphit. Trong g-C3N4 lục giác, Teter và Hemley đã mô tả lần đầu tiên những mặt graphit này như cấu tạo lục giác của những vòng triazine (C3N3) (Hình 1. Sự liên kết giữa các vòng được gắn chặt bởi nitrogen bổ sung mà được liên kết với ba vòng.
Trong cấu trúc này, 10 trong khi C chỉ hiện diện kiểu lai hóa sp2, N thể hiện lai hóa sp2 và sp3 ở bên trong và giữa các vòng tương ứng [29]. Mặt phẳng graphit (a) hexagonan và (b) orthorhombic C3N4 Trên cơ sở ảnh kính hiển vi điện tử truyền qua của graphit cacbon nitrua tổng hợp dưới áp suất cao, Alves và cộng sự đã đề xuất các liên kết (C 3N3) khác vào trong mặt phẳng (Hình 1. Hơn nữa, nhiều cách xếp chồng đã được xem xét. Các kiểu xếp chồng ABCABC đã được đề xuất bởi Liu và Wentzcovitch và tương thích với nhóm không gian R3m.
Teter và Hemley đã đề nghị kiểu xếp chồng AB, kiểu xếp phù hợp với nhóm không gian P6m2. Kiểu xếp chồng AA cũng đã được đề xuất. Khoảng cách mặt phẳng bên trong dự kiến sẽ thay đổi như 3,45 Å; 3,36 Å và 3,06 Å theo thứ tự các kiểu xếp AA, AB và ABC tương ứng [29]. Phương pháp tổng hợp g-C3N4 Graphit cacbon nitrua (g-C3N4) có thể được tổng hợp bằng phản ứng ngưng tụ ure, xyanamite, dixyandiamite hoặc melamin.
Tùy thuộc vào điều kiện phản ứng, có thể thu được vật liệu khác nhau với mức độ ngưng tụ và tính chất khác nhau có thể thu được g-C3N4. Cấu trúc được hình thành đầu tiên là polyme C3N4 với các nhóm amino vòng là một polyme có độ trật tự cao. 11 Phản ứng tiếp tục dẫn đến những loại C3N4 đặc khít hơn và ít khiếm khuyết, dựa trên các đơn vị tri-s-triazine (C6N7) như các khối kiến trúc cơ bản. Kính hiển vi điện tử truyền qua có độ phân giải cao chứng tỏ đặc tính của những loại ngưng tụ có không gian hai chiều rộng hơn.
Tính chất bán dẫn đặc biệt của g-C3N4, chúng có thể cho thấy hoạt tính xúc tác tuyệt vời cho nhiều phản ứng khác nhau. Như đối với sự kích hoạt của benzen, phản ứng ngưng tụ ba phân tử và cũng như kích hoạt của khí cacbon đioxit. Kết quả tính toán hiện đại cũng đã giải thích cho các trường hợp bất thường này về chất xúc tác không kim loại dị thể này, g-C3N4 cũng đóng vai trò như một chất xúc tác dị thể và có thể được biến tính bởi nano kim loại. Các phương pháp tổng hợp khác nhau g-C3N4 bao gồm ngưng tụ các hợp chất ban đầu giàu cacbon và nitrogen khác nhau.
Kouvetakis và cộng sự đã phân hủy tiền chất là dẫn xuất melamin ở nhiệt độ 400 - 500 oC để thu được một cacbon nitrua vô định hình với các thành phần cấu tạo chính xác và các đỉnh graphit được xếp rõ ràng. Nhiều công trình nghiên cứu khác về phương pháp tổng hợp g-C3N4 từ các chất giàu nitrogen khác nhau cũng đã được công bố [10]. Komatsu đã công bố về một mô hình cacbon nitrua có độ trật tự cao, C91H14N124. Nhóm này cũng đã đưa ra những dạng kết tinh cao được gọi là melem “khối lượng phân tử cao”.
Một bước tiến mới trong việc tiếp cận theo hướng hệ thống g-C3N4 có độ xác định và trật tự tốt hơn được công bố bởi Schnick và cộng sự, các nhà khoa học đã phân tách và giải thích được các cấu trúc tinh thể của chất trung gian 2,5,8-triamino-tri-s-triazine hoặc melem (C6N10H6). Melem đã được tìm thấy là một chất trung gian nhưng tiếp tục duy trì nhiệt độ thì khá ổn định, trái ngược với các thí nghiệm của Komatsu đã công bố.