CHƯƠNG 1. TỔNG HỢP, CẤU TRÚC PHỨC CHẤT PLATINUM(II) CHỨA EUGENOL 1. Tổng hợp, tính chất của eugenol Ở Việt Nam, cây hương nhu cho tinh dầu chứa khoảng 70% eugenol. Thông thường, eugenol được tách từ tinh dầu như sau: cắt nhỏ toàn bộ cây hương nhu (trừ bỏ rễ), xay nhuyễn, cho nước dư vào và đun, chiết tách tinh dầu.
Làm khô tinh dầu bằng Na2SO4. Eugenol có hoạt tính sinh học cao, có khả năng chống nấm mốc, diệt khuẩn, chống viêm, chống oxi hoá [39, 44]. Một số dẫn xuất của eugenol như metyl eugenol, axit eugenoxyaxetic, 4-Allyl-2-Methoxy-1-Propoxybenzene. đã được tổng hợp với khả năng diệt côn trùng cao [13].
Những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu tổng hợp phức chất platinum(II) chứa eugenol hoặc dẫn xuất của nó và amine đã được công bố và cho thấy chúng có hoạt tính ức chết tế bào ung thư tốt với giá trị IC50 thấp hơn cisplatin [18, 31]. Danh pháp, công thức phân tử, công thức cấu tạo và một số tính chất của eugenol được liệt kê ở bảng 1. Tính chất vật lí của eugenol Danh pháp IUPAC 4-allyl-2-methoxyphenol Công thức cấu tạo Công thức phân tử C10H12O2 Phân tử gam 164,2 g/mol Khối lượng riêng D = 1,06 g/ml Nhiệt độ sôi 2540C Màu sắc Vàng Trạng thái Chất lỏng không tan trong nước, tan tốt trong dung môi hữu cơ Tính tan như axeton, clorofom, etanol 3 Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail.com) lOMoARcPSD|39475011 Khả năng tạo phức Xét về bản chất liên kết, liên kết Pt-(C=C) trong phức chất platinum(II) olefin (điển hình là muối Zeise: K[PtCl3(C2H4)].H2O) có bản chất giống như trong ethylene σ cho/ π nhận, gồm 2 thành phần độc lập: - Liên kết σ cho hình thành do MO π liên kết của ethylene xen phủ với obitan lai hóa dsp2 của Pt(II). - Liên kết π nhận được hình thành do Pt(II) dùng obitan 5d chứa một cặp electron xen phủ với obitan phân tử π* phản liên kết trống của ethylene.
Liên kết σ và π trong anion Zeise. Đối với eugenol và các dẫn xuất của eugenol, các tác giả [25] đã chứng minh Pt(II) không chỉ phối trí qua liên kết đôi C=C của nhánh allyl mà còn có thể phối trí khép vòng qua nguyên tử carbon của vòng benzene như trong hình 1. Hai kiểu phối trí của arylolefin với Pt(II). Kết quả phân tích phổ 1D và 2D NMR đã chỉ ra bản chất liên kết trong phức chất Pt(II)-arylolefin: liên kết Pt-(C=C) theo kiểu σ, π-cho/π-nhận tương tự như ethylene trong muối Zeise; còn liên kết Pt-Cbenzene có bản chất là σ-cho/π-nhận [25].
Tổng hợp, cấu trúc phức chất Pt(II) chứa olefin Năm 1827, phức chất bền đầu tiên của platin-olefin có công thức K[PtCl3(C2H4)].H2O (muối Zeise) được tổng hợp bởi giáo sư William Christopher 4 Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail.com) lOMoARcPSD|39475011 Zeise. Nhưng vì những vấn đề phức tạp trong bản chất liên kết và cấu tạo của hợp chất này mà nó đã bị đi vào quên lãng cho đến đầu thế kỉ XX phức chất của platin- olefin mới được các nhà hóa học quan tâm trở lại. Muối Zeise được tổng hợp từ acid Zeise theo các phương trình hóa học sau: to Na2[PtCl6] + 2C2H5OH H[PtCl3(C2H4)].H2O + CH3CHO + 2NaCl + HCl H[PtCl3(C2H4)].H2O + HCl Sau đó, các phức chất mono olefin có công thức K[PtCl 3(olefin)] với cấu trúc ổn định được tổng hợp bằng phản ứng thế ethylene trong muối Zeise: K[PtCl3(C2H4)] + olefin K[PtCl3(olefin)] + C2H4↑ Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, xu hướng nghiên cứu phức chất của Pt(II) chứa arylolefin có nguồn gốc thiên nhiên đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học bởi một số đặc tính của arylolefin như: dùng để trị liệu, hoạt tính sát khuẩn, rẻ tiền, dễ kiếm và đặc biệt các liên kết ethylenic thích hợp chuyển hóa thành các dược chất. Từ một số loài thực vật chứa hàm lượng arylolefin thiên nhiên cao như tinh dầu hương nhu (chứa 70% eugenol), tinh dầu xá xị (chứa 90% safrole) và dẫn xuất của chúng, nhóm phức chất trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã đưa chúng vào cầu phối trí của Pt(II).
Công thức cấu tạo của một số aryolefin có nguồn gốc thiên nhiên. Dãy phức chất mono arylolefin K[PtCl 3(arylolefinH)] được tổng hợp bằng phản ứng trực tiếp giữa muối Zeise với tinh dầu hoặc với dẫn xuất tổng hợp được. Phản ứng được thực hiện ở điều kiện thường với hiệu suất cao [1, 5, 7] 5 Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail.com) lOMoARcPSD|39475011 Hình 1. Sơ đồ tổng hợp phức chất mono arylolefin của Pt(II).
Khi cho các phức chất mono ở trên tác dụng với các amine có dung lượng phối trí 1 hoặc 2, các tác giả [20, 25] thu được dãy các phức chất trung hòa [PtCl2(arylolefinH)(amine)] (amine: pyridine, p-chloaniline…) và [PtCl(arylolefinH)(amine)] (amine: 8-hydroxyquinoline và dẫn xuất của nó), trong đó nguyên tử N đều ở vị trí trans so với nhánh allyl (Hình 1. Cấu trúc của phân tử [PtCl2(EtEugH)(2-NH2Py)] (a) và [PtCl(EugH)(Cl- OQ)] (b) Tuy nhiên, hiện tượng bất thường xảy ra khi cho phức mono safrole K[PtCl3(SafH)] tương tác với piperidine, tác giả [23] không thu được các phức chất dạng [PtCl2(SafH)(piperidine)] mà lại thu được phức chất khép vòng (Hình 1. Ở đó, safrole phối trí với Pt(II) không chỉ qua liên kết đôi C=C allyl mà còn qua nguyên tử carbon thơm của vòng benzene, tức là đã có sự đề hydro hóa và amine ở vị trí cis so với nhánh allyl. Cấu trúc sản phẩm được xác định bằng các phương pháp hóa lí hiện đại như phổ cộng hưởng từ hạt nhân một và hai chiều, nhiễu xạ tia X đơn tinh thể.
6 Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail.com) lOMoARcPSD|39475011 Hình 1. Phương trình tổng hợp và cấu trúc của [PtCl(Saf)(piperidine)] xác định bằng nhiễu xạ tia X đơn tinh thể. Sau khi nhận thấy hiện tượng bất thường này, tác giả [23] tiếp tục thực hiện một loạt các phản ứng nhằm thu được phức chất khép vòng hai nhân chứa safrole có dạng [PtCl(Saf)]2 (sơ đồ 1. Tiếp theo đó, các tác giả [8, 24] đã tổng hợp thành công phức chất khép vòng hai nhân của các arylolefin khác dựa trên phương pháp này, phản ứng diễn ra theo sơ đồ sau: Khi cho phức hai nhân [PtCl(arylolefin)]2 tác dụng với các amine có dung lượng phối trí 1 và 2, các tác giả [18, 25] thu được dãy phức chất [PtCl(arylolefin) (amine)] (amine: aniline, pyridine và dẫn xuất của chúng) hoặc [Pt(arylolefin) (amine)] (amine: 8-hydroxyquinoline và dẫn xuất của nó), trong đó nguyên tử N đều ở vị trí cis so với nhánh allyl (Hình 1.
7 Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail.com) lOMoARcPSD|39475011 (a) (b) Hình 1. Cấu trúc phân tử [PtCl(Meug)(2-MePhNH2] (a) và [Pt(Meug)(OQ)] (b). Các phức chất Pt(II) chứa đồng thời amine và arylolefin đã được nghiên cứu tổng hợp và xác định cấu trúc bằng các phương pháp vật lí, hóa học và hóa lí hiện đại như: phương pháp trọng lượng, phổ khối lượng (ESI-MS), phổ hồng ngoại (IR), phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) và nhiễu xạ tia X đơn tinh thể (XRD). TỔNG HỢP, CẤU TRÚC PHỨC CHẤT PLATINUM(II) CHỨA CARBENE DỊ VÒNG NITROGEN 1.
Tổng hợp và tính chất của phối tử carbene dị vòng nitrogen Cấu trúc của carbene và NHC Carbene là hợp phần trung hòa về điện có dạng đơn giản nhất là H 2C: và dẫn xuất của nó, trong đó nguyên tử carbon có hóa trị II với sáu electron hóa trị. Carbene có thể tồn tại trạng thái singlet (cặp electron đối song) hoặc triplet (hai electron độc thân) [30]. Đặc điểm cấu tạo của carbene. Cấu trúc và độ bền của carbene có thể bị ảnh hưởng bởi không gian và hiệu ứng điện tử của nhóm thế.
Các nhóm thế hút electron (hiệu ứng –I) thì trạng thái singlet bền hơn. Mặt khác, đối với các nhóm thế đẩy electron (hiệu ứng +I) làm ổn 8 Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail.com) lOMoARcPSD|39475011 định trạng thái triplet. Hiện nay, carbene dị vòng nitrogen (NHC), loại carbene tồn tại trạng thái singlet, đã và đang thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu tổng hợp phức chất của kim loại chuyển tiếp. Một trong những đặc điểm chính của các NHC đó là tính ổn định hơn so với carbene cổ điển.
Điều này được giải thích như sau: nguyên tử C NCN trong NHC ở trạng thái lai hóa sp2 nên cặp electron carbene nằm trên obitan sp 2 được giải tỏa nhờ hiệu ứng hút electron từ hai nguyên tử N có độ âm điện lớn hơn. Ngoài ra, các NHC là nucleophile có khả năng cho electron mạnh do hiệu ứng đẩy electron từ cặp electron trên obitan p của N sang obitan p trống của Ccarbene. Cấu trúc điện tử và các cấu trúc cộng hưởng của NHC. Phương pháp tổng hợp NHC Hợp chất NHC tự do đầu tiên 1,3‐di‐1‐adamentylimidazolin‐2‐ylidene được tổng hợp vào năm 1991 bởi Arduengo và đồng nghiệp bằng phản ứng giữa 1,3- bis(adamantyl)imidazolium chloride với NaH trong THF khan, xúc tác DMSO có tính bền, nóng chảy mà không bị phân hủy ở 240oC [11].
Sau thành công của Arduengo, đã có thêm nhiều báo cáo nêu chi tiết các phương pháp khác nhau để tổng hợp NHC tự do. Trong đó, các phối tử carbene dị vòng 5 cạnh được chú ý hơn cả [14]. Công thức cấu tạo của một số carbene tự do. 9 Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail.com) lOMoARcPSD|39475011 Trong các phương pháp tổng hợp NHC tự do, đề proton muối azolium halide và khử các hợp chất thione là hai phương pháp phổ biến được sử dụng.
- Đề proton muối azolium halide: Ngưng tụ base Shiff với formaldehyde là một trong những phương pháp đơn giản để tổng hợp muối imidazolium [40]. Trong môi trường acid, amine và glyoxal phản ứng với nhau tạo thành các base Shiff, sau đó đem ngưng tụ với formaldehyde thu được muối imidazolium halide đối xứng. Việc tổng hợp các muối azolium halide chứa các nhóm aryl hoặc alkyl dạng 1,3-bis(2,6-diisopropylphenyl) imidazolium (IPr∙HX), 1,3-bis(2,4,6-trimethylphenyl)imidazolium (IMes∙HX), 1,3- bis(cyclohexyl)imidazolium (ICy∙HX), … bằng phương pháp này rất thuận lợi [40] (Hình 1. Sơ đồ tổng hợp muối imidazolium halide bằng phản ứng ngưng tụ.
Khi tiến hành phản ứng giữa glyoxal, amoni chloride, paraformaldehyde và một đương lượng của amine bậc một, tác giả [36] thu được dẫn xuất dạng 1-R- imidazole. Tiếp theo, thực hiện phản ứng alkyl hóa 1-R-imidazole bằng alkyl halide tạo thành muối imidazolium không đối xứng (Hình 1. Sơ đồ tổng hợp muối imidazolium halide bằng phản ứng alkyl hóa. Một cách khác để tổng hợp muối imidazolium không đối xứng là sử dụng sự kiềm hóa từng bước của một anion imidazolide được tạo ra từ phản ứng của imidazole với kali [34]: Hình 1.
Sơ đồ tổng hợp muối imidazolium halide bằng phản ứng kiềm hóa. 10 Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail.com) lOMoARcPSD|39475011 Cũng theo tác giả [36], phương pháp phổ biến để tổng hợp muối azolium là thực hiện phản ứng alkyl hóa các hợp chất azole như imidazole, benzimidazole, 1,2,4-triazole với các dẫn xuất alkyl halide, phản ứng thường chạy theo cơ chế S N2.