Chương 1 TOI GIÁN ĐIỆP TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 1. Khái niệm tội gián điệp trong Luật hình sự Việt Nam Dưới góc độ lập pháp hình sự thì tội gián điệp đã được qui định trong các văn bản pháp luật hình sự của Nhà nước ta từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, tuy nhiên quan niệm về tội gián điệp ở từng thời kì cách mạng còn có sự khác biệt nhau. Vì vậy, dưới góc độ khoa học, chúng ta cần thiết phải làm rõ khái niệm tội gián điệp. Bởi vì, khái niệm tội gián điệp là khởi điểm cho việc giải quyết ban chất tất cả những van dé của TNHS về tội gián điệp.
Việc nhận thức đúng đắn khái niệm tội gián điệp là cơ sở quan trọng cho quá trình lập pháp cũng như áp dụng pháp luật hình sự đối với tội gián điệp và xây dựng nhiệm vụ của hoạt động phòng ngừa loại tội phạm này. Theo Sac lệnh số 133 ngày 20/01/1953 qui định trừng trị những tội phạm xâm hại đến an toàn nhà nước, đối nội và đối ngoại thì: Tội làm gián điệp là “hành vi làm nội gián trong các tổ chức quân, dân, chính; có ý tiết lộ hoặc bán bí mật quốc gia cho địch; dò xét bí mật quốc gia; mua, cướp, lay cắp những tài liệu bí mật quốc gia; làm dấu hiệu cho địch bắn phá hoặc lùng bắt cơ quan, cán bộ, nhân dân; làm liên lac, đưa thu, tài liệu, tin tức, đưa người cho địch”. Theo Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967 thì tội gián điệp là “hành vi cung cấp, chuyên giao hoặc lấy cắp, thu thập cất giữ để cung cấp, chuyên giao những bi mật Nhà nước, bi mật quân sự cho bọn dé quốc và bè lũ tay sai của chúng, cho cơ quan tình báo nước ngoài, nhận chỉ thị của nước ngoài, tổ chức người điều tra tình báo hoặc tiến hành những hoạt động phản cách mạng khác, chỉ điểm cho bọn xâm lược ném bom, băn phá; nhận chỉ thị của nước ngoài, thu thập, cung cấp tin tức, tài liệu tuy không thuộc bí mật Nhà nước, nhưng dé nước ngoai sử dụng gây thiệt hại cho lợi ích của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa”. Theo qui định của BLHS năm 1999 thì tội gián điệp là “hành vi hoạt động tình báo, phá hoại hoặc gây cơ sở dé hoạt động tình báo, phá hoại chéng nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài; hoạt động thám báo, chỉ điểm, chứa chấp, dẫn đường hoặc thực hiện hành vi khác giúp người nước ngoài hoạt động tình báo, phá hoại; cung cấp hoặc thu thập nhằm cung cấp bí mật Nhà nước cho nước ngoài; thu thập, cung cấp tin tức, tài liệu khác nhằm mục đích để nước ngoài sử dụng chống nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”.
Trên cơ sở qui định của BLHS năm 1999 về tội gián điệp, hiện nay trong khoa học luật hình Việt Nam các nhà nghiên cứu có những quan niệm khác nhau về tội gián điệp.TS Phùng Thế Vắc thì: Tội gián điệp là hành vi của người nước ngoài, người không quốc tịch hoạt động tình báo, phá hoại hoặc gây cơ sở dé hoạt động tình báo, phá hoại chống nước Cộng hòa XHCN Việt Nam hoặc là hành vi của công dân Việt Nam gây cơ sở dé hoạt động tinh báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài, hoạt động thám báo, chỉ điểm, chứa chấp, dẫn đường hoặc thực hiện hành vi khác giúp người nước ngoài hoạt động tình báo, phá hoại hoặc có hành vi cung cấp hay thu thập nhằm cung cấp tin tức tài liệu thuộc bí mật Nhà nước hay không thuộc bí mật Nhà nước cho nước ngoài để nước ngoài sử dụng chống nước Cộng hòa XHCN Việt Nam [21, tr. Theo Giáo trình Luật hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội thì: Tội gián điệp là hành vi của công dân nước ngoài, người không có quốc tịch hoạt động tinh báo, pha hoại hoặc gây cơ sở dé hoạt động tình báo, phá hoại chống nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Tội gián điệp cũng có thể là hành vi của công dân Việt Nam gây cơ sở dé hoạt động tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài; hoạt động thám báo, chỉ điêm, chứa châp, dân đường hoặc thực hiện hành vi khác giúp người nước ngoài hoạt động tình báo, phá hoại; cung cấp hay thu thập nhằm cung cấp tin tức tài liệu thuộc bí mật Nhà nước hay không thuộc bí mật Nhà nước cho nước ngoài để nước ngoài sử dụng chống nước Cộng hòa XHCN Việt Nam [18, tr.PGS Lê Cảm thì: tội gián điệp có thé được hiểu là việc thực hiện bắt kì hành vi nào (được liệt kê tại điều luật đã nêu) của người nước ngoài hoặc người không quốc tịch nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam [6, tr. Những khái niệm nêu trên về tội gián điệp, dù ở phương diện lập pháp hay nghiên cứu khoa học, các nhà lập pháp hay nhà khoa học đều chưa phản ánh đầy đủ các dấu hiệu thuộc các yếu tố cấu thành tội phạm của tội gián điệp, mà mới chỉ ra được dấu hiệu hành vi trong mặt khách quan của tội phạm.
Chúng tôi cho rằng, dưới góc độ khoa học Luật hình sự khái niệm tội gián điệp cần phải phản ánh được một cách đầy đủ các dấu hiệu thuộc các yếu tố cau thành tội phạm của tội phạm này. Và do vậy, theo chúng tôi khái niệm tội gián điệp cần được định nghĩa như sau: Tội gián điệp là hành vì hoạt động tình báo, phá hoại, gây cơ sở để hoạt động tình báo pha hoại, hoạt động tình báo, pha hoại theo sự chỉ dao của nước ngoài, hoạt động thám báo, chi điểm, chứa chấp, dân đường hoặc thực hiện hành vi khác giúp người nước ngoài hoạt động tình báo, pha hoại; cung cấp, thu thập nhằm cung cấp bí mật Nhà nước, tin tức tài liệu khác cho nước ngoài do công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định thực hiện một cách cỗ y trực tiếp nhằm chong Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Như vậy, khái niệm này đã phản ánh được đầy đủ các dấu hiệu thuộc các yêu tố cau thành tội phạm của tội gián điệp. Phân tích định nghĩa về tội gián điệp nêu trên sẽ cho phép chúng ta nhận thức về các yêu tố cầu thành tội phạm của tội gián điệp, qua đó sẽ năm vững được nội dung của khái niệm tội gián điệp.
Dấu hiệu pháp lí hình sự của tội gián điệp 1. Khách thể của tội phạm Theo khoa học Luật hình sự thì khách thé của tội phạm là quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại. Bất cứ tội phạm nào cũng đều trực tiếp gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho một hoặc nhiều quan hệ xã hội nhất định. Chính qua sự gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại này mà tội phạm xâm hại đến khách thé loại và khách thê chung.
Mặt khác, sự gây thiệt hại cho khách thể dù ở hình thức cụ thể nào cũng luôn luôn diễn ra trên cơ sở hành vi phạm tội làm biến đổi tinh trạng bình thường của các đối tượng tác động là bộ phận cau thành nên các quan hệ xã hội [18, tr. Van dé lí luận cơ bản trên đây sẽ là cơ sở cho phép chúng ta nghiên cứu về khách thé của tội gián điệp và đối tượng tác động của tội phạm này. Khách thê trực tiếp của tội gián điệp là quan hệ xã hội bảo đảm an toàn đối nội và đối ngoại của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. An toàn đối nội là sự an toàn cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thé của Tổ quốc, sự 6n định và phát triển bền vững của chế độ XHCN và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
An toàn đối ngoại là sự an toàn cho các quan hệ đối ngoại của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam với các nước, các vùng lãnh thé, các tổ chức quốc tế. Mặt khách quan của tội phạm Trên cơ sở lí luận về cấu thành tội phạm và qui định tại Điều 80 BLHS năm 1999 thì tội gián điệp có cau thành tội phạm hình thức, có nghĩa là trong cấu thành tội phạm của tội phạm này chỉ qui định hành vi nguy hiểm cho xã hội là dẫu hiệu phản ánh yếu tố mặt khách quan của tội phạm. Mặt khách quan của tội gián điệp thể hiện ở những hành vi sau đây: 10 Hoạt động tinh báo. Hoạt động tình báo là những hành vi điều tra, thu thập tin tức, tài liệu thuộc bí mat Nhà nước hoặc những tin tức, tài liệu không thuộc bí mật Nha nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ, an ninh, quốc phòng và đối ngoại bằng con người hay qua phương tiện kĩ thuật dưới hình thức công khai hoặc bí mật nhằm sử dụng dé gay thiét hai cho Nha nước Cộng hoa XHCN Việt Nam.
Hoạt động tinh báo là hành vi rất phổ biến của gián điệp. Hoạt động tinh báo có thé được tiến hành bằng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau như dụ dỗ, mua chuộc, moi hỏi, lay cap, vé so dé, quay phim, chụp ảnh, nghe trộm điện thoại hoặc băng cách sử dụng kĩ thuật thu tin tức khác, khai thác sách báo công khai hoặc phỏng van,. Hoạt động tình báo thường được thực hiện bởi các nhân viên tình báo nước ngoài hoặc không phải là nhân viên tình báo nước ngoài nhưng được cơ quan tình báo nước ngoài tuyển lựa, giao nhiệm vụ hoạt động tình báo. Những người tiễn hành hoạt động tình báo chủ yếu là từ nước ngoài vào Việt Nam hợp pháp dưới các danh nghĩa khác nhau như viên chức ngoại giao, nhân viên các tô chức quốc tế, thành viên đoàn hội nghị, thương gia, thực hiện dự an, hợp tác đầu tư, phóng viên, khách du lịch, thăm thân,.hoặc bất hợp pháp.
Ví dụ: Trong vụ án Michael Morrow. Lợi dụng chính sách mở cửa, hợp tác đầu tư của Đảng và Nhà nước ta, M.Morrow đã nhiều lần vào Việt Nam với danh nghĩa làm ăn kinh tế. Sau sự kiện Thiên An Môn ở Trung Quốc, M.Morrow đã liên kết chặt chẽ với Malloni, phóng viên tự do hoạt động ở Hồng Kông, lén lút chuyên nhiều tài liệu có nội dung phản động, kích động đa nguyên, đa đảng vào nước ta. Chúng lợi dụng danh nghĩa tìm kiếm thị trường, hợp tác đầu tư để móc nối với những người bất mãn, biến chất, cực đoan, những người trong phong trào sinh viên cũ và trong Câu lạc bộ kháng chiến.