CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Trong chương này, chúng tôi trình bày những vấn đề cơ bản về cảm biến khí và cấu trúc và tính chất nhạy khí của vật liệu vật liệu SWCNTs và vật liệu SWCNTs biến tính: 1. Giới thiệu về cảm biến khí 1. Khái niệm về cảm biến khí Cảm biến được định nghĩa là một linh kiện dùng để chuyển đổi (biến) tín hiệu cần đo là các tác nhân kích thích thành tín hiệu có thể đo đạc được (tín hiệu điện, nhiệt, âm thanh, ánh sáng, màu sắc v. Thường cảm biến có hai bộ phận chính là bộ phận cảm nhận (Receptor) và bộ phận chuyển đổi tín hiệu (Transducer) [7].
Cảm biến khí là loại cảm biến dùng để phát hiện và đo đạc nồng độ của một hoặc một số khí nhất định. Bộ phận cảm nhận của cảm biến khí là một loại vật liệu hoặc hệ thống vật liệu (còn gọi là vật liệu nhạy khí) có thể tương tác với khí phân tích và tính chất của chúng bị thay đổi. Còn bộ phận chuyển đổi tín hiệu là linh kiện có thể chuyển các thay đổi tính chất thành tín hiệu điện. Các đặc trưng cơ bản của cảm biến khí Các đặc trưng cơ bản của cảm biến khí là những thông số hết sức quan trọng trong nghiên cứu, ứng dụng cũng như đánh giá phẩm chất của cảm biến.
Các thông số quan trọng nhất của cảm biến khí được liệt kê dưới đây: 1. Độ đáp ứng khí: Độ đáp ứng khí là độ thay đổi tín hiệu đo tương ứng với thay đổi nồng độ của khí đo. Độ đáp ứng khí thường được định nghĩa bằng tỷ số giá trị tín hiệu khi có khí chia cho giá trị tín hiệu khi không có khí (hoặc nghịch đảo của tín hiệu này). Đối với cảm biến khí kiểu thay đổi độ dẫn, độ đáp ứng khí là tỷ số giữa điện trở (độ dẫn) của cảm biến trong môi trường có khí đo chia cho 8 điện trở (độ dẫn) của cảm biến đo trong môi trường không khí (khí so sánh) [7].
Các công thức thường được sử dụng để tính độ đáp ứng như sau: Ra R S= hay S = g (1.2) Rg Ra Ra − Rg Rg − Ra S= hay S = (1.4) Ra Rg Ở đây Ra và Rg là điện trở của cảm biến khi đo trong môi trường khí nền( thường là không khí) và trong môi trường khí đo. Trong nghiên cứu cảm biến khí, để đánh giá độ đáp ứng của cảm biến, tín hiệu đo sẽ được ghi liên tục trong môi trường so sánh (khí nền), sau đó khí nền sẽ được càng dễ dàng trong việc thiết kế mạch chuyển qua khí cần đo. Sự thay đổi tín hiệu đo giữa môi trường khí nền và khí phân tích càng lớn thì cảm biến có độ đáp ứng càng cao. Độ nhạy khí Độ nhạy của cảm biến khí kiểu điện trở là tỷ số giữa sự thay đổi điện trở tương đối của cảm biến ( R) so với sự thay đổi của nồng độ khí đo ( C).
Hay độ nhạy chính là độ dốc của đường phụ thuộc của độ đáp ứng khí theo nồng độ khí đo. Đây là định nghĩa về độ nhạy đã được hiệp hội quốc tế về hóa phân tích (International Union Pure Analytical Chemistry, gọi tắc là IUPAC) thông qua. Cảm biến khí có độ nhạy càng cao thì càng dễ dàng trong việc thiết kế mạch đo. Cần phân biệt độ nhạy và giới hạn đo, vì giới hạn đo là nồng độ khí thấp nhất mà cảm biến còn có thể phân biệt được.
Tuy nhiên cảm biến có độ nhạy càng cao thì càng có thể đo được các giới hạn nồng độ khí thấp hơn. Độ chọn lọc : Là khả năng đáp ứng chọn lọc với một nhóm hoặc một loại khí phân 9 tích của cảm biến. Thông thường, để đánh giá độ chọn lọc của cảm biến khí, người ta thường so sánh độ nhạy hoặc độ đáp ứng của cảm biến đối với các khí khác nhau ở cùng một nồng độ khí với điều kiện cảm biến làm việc ở một điều kiện nhất định. Thông thường, cảm biến khí mong muốn chế tạo chỉ có thể đáp ứng chọn lọc với một vài loại khí nhất định ở vùng nồng độ nhất định trong điều kiện làm việc tối ưu.
Tăng tính chọn lọc của cảm biến khí vẫn đang là một vấn đề thách thức với các nhà nghiên cứu. Độ ổn định Độ ổn định là khả năng làm việc của cảm biến trong một khoảng thời gian nhất định mà vẫn đảm bảo tính lặp lại của các kết quả đo. Chúng bao gồm cả độ nhạy, độ chọn lọc, thời gian đáp ứng và hồi phục. Thông thường, độ ổn định của cảm biến có hai loại, một là độ ổn định theo thời gian làm việc hoặc số lần làm việc, loại thứ hai liên quan đến độ ổn định của cảm biến khi làm việc liên tục trong khoảng thời gian dài.
Loại thứ hai liên quan đến thời gian sống của cảm biến. Thông thường mỗi cảm biến có một thời gian sống nhất định. Sau khoảng thời gian này thì cảm biến thường bị phá hủy hay hỏng không còn hoạt động được. Thời gian đáp ứng và hồi phục : Thời gian đáp ứng và thời gian hồi phục là hai đại lượng rất quan trọng để xác định tính hiệu quả của cảm biến.
Về nguyên tắc cảm biến được cho là có chất lượng tốt khi có thời gian đáp ứng và thời gian hồi phục ngắn. Thông thường đối với cảm biến khí kiểu thay đổi điện trở , thời gian đáp ứng chính là thời gian được tính từ lúc cho khí vào đến lúc điện trở giảm đến điện trở đáp ứng Rd. Thời gian đáp ứng và Rd được tính như sau: khi cho Rair − Rd khí thử vào, lớp nhạy khí bắt đầu giảm điện trở cho tới khi = 63%. Rmax Trong đó Rmax là độ chênh lệch điện trở cực đại, Rair là điện trở lớp nhạy khí 10 lớn nhất khi chưa có khí thử Thời gian hồi phục là khoảng thời gian lúc khí thử giải hấp ra khỏi màng đến khi điện trở hồi phục đến giá trị Rp.
Thời gian hồi phục và Rp được tính như sau: khi khí thử dược giải hấp ra khỏi lớp nhạy khí, điện trở lớp nhạy Rga − R p phục hồi tới giá trị sao cho = 63%. Trong đó Rmax là độ chênh lệch Rmax điện trở cực đại, Rgas là điện trở màng nhỏ nhất khi có khí thử. Độ phân giải Là sự khác biệt về nồng độ thấp nhất mà cảm biến có thể phân biệt được tại một điều kiện làm việc nhất định. Cảm biến có độ phân giải càng cao thì càng cho kết quả đo chính xác khi làm việc.
Độ phân giải không những chỉ phụ thuộc vào độ đáp ứng của cảm biến mà còn phụ thuộc vào điện trở ban đầu, cách đo tín hiệu, hay tỷ lệ tín hiệu/nhiễu. Độ phân giải thường gắn liền với thiết bị đo, hay máy đo. Điều này được quyết định bởi cách thức xử lý tín hiệu và hiển thị kết quả đo[7]. Giới hạn đo khí Giới hạn đo (LOD, Limit of Detection) là nồng độ khí thấp nhất mà cảm biến có thể phát hiện được.
Trong một số điều kiện thí nghiệm chúng ta không thể tạo ra được những nồng độ khí đủ nhỏ để xác định giới hạn đo của cảm biến. Tuy nhiên, chúng ta có thể tính toán được giá trị LOD của cảm biến thông qua việc xử lý tín hiệu đo của cảm biến. Theo định nghĩa của IUPAC, thì giới hạn đo của cảm biến được tính theo công thức : rmsnoise CDL ( ppm ) = 3 slope (1.5) Trong đó rmsnoise là độ ồn( nhiễu) tín hiệu đo và slope là hệ số góc của đường fit giữa sự phụ thuộc của nồng độ khí và độ đáp ứng. rmsnoise được tính 11 ( y − y) 2 i theo công thức: rmsnoise = (1.6) N Trong đó yi là giá trị thực nghiệm đo đường nền và y là giá trị tính toán tương ứng từ hàm nội suy thu được từ việc fit các giá trị thực nghiệm đo đường nên theo hàm đa thức bậc 4 (fifth-order polynomial fit)[7].
Ảnh hưởng của nhiệt độ làm việc đến độ đáp ứng của khí Nhiệt độ làm việc của cảm biến là nhiệt độ tại đó người ta nghiên cứu lựa chọn để khảo sát các thông số đặc trưng của cảm biến. Thông thường nhiệt độ làm việc là nhiệt độ mà tại đó cảm biến thể hiện độ đáp ứng. Đối với cảm biến khí bán dẫn kiểu thay đổi độ dẫn, quá trình hấp phụ khí trên bề mặt vật liệu phụ thuộc khá nhiều vào nhiệt độ làm việc. Tùy thuộc vào loại khí phân tích và tùy thuộc vào từng loại vật liệu, nhiệt độ làm việc của cảm biến sẽ khác nhau, cảm biến kiểu trở hóa, sự hấp phụ khí trên bề mặt vật liệu phụ thuộc khá nhiều vào nhiệt độ làm việc.
Do đó, tùy vào loại khí phân tích và tùy vào vật liệu, nhiệt độ làm việc sẽ được lựa chọn khác nhau. Cấu tạo cơ bản của cảm biến khí dạng trở hóa Cấu tạo đơn giản của một thiết bị cảm biến khí bao gồm lớp vật liệu nhạy khí phủ trên đế chịu nhiệt có thể là thủy tinh hoặc kim loại, hai điện cực để thu nhận tín hiệu thay đổi điện trở khi khí tiếp xúc với lớp vật liệu nhạy khí. Cấu tạo cơ bản của thiết bị cảm biến 12 1. Vật liệu CNTs và CNTs biến tính bề mặt 1.
Cấu trúc và hình thái của vật liệu CNT Ống nano carbon (CNT) là một dạng carbon, có đường kính cỡ nanomet và chiều dài cỡ micromet (trong đó tỷ lệ chiều dài trên đường kính vượt quá 1000). Các nguyên tử được sắp xếp theo hình lục giác, cách sắp xếp giống nhau trong than chì. Cấu trúc của CNT bao gồm các tấm graphene được cuộn lại thành một hình trụ liền mạch với đường kính cỡ nanomet. CNTs được coi là cấu trúc gần như một chiều (1D) theo tỷ lệ chiều dài và đường kính cao của chúng.
Có 2 loại cấu trúc quan trọng là CNT đơn vách (SWCNT) và CNT đa vách (MWCNT). Trong đó, SWCNT là một hình trụ chỉ có một tấm graphene được bọc trong khi MWCNT tương tự như một tập hợp các SWCNT đồng tâm. Chiều dài và đường kính của các cấu trúc này khác rất nhiều so với các cấu trúc SWCNT và tất nhiên, các tính chất của chúng cũng rất khác nhau. Các liên kết trong CNTs là sp2 và bao gồm các mạng tổ ong và có cấu trúc liền mạch, với mỗi nguyên tử liên kết với ba nguyên tử lân cận, như trong than chì.
Cấu trúc của ống nano cacbon CNT có thể xem như thu được bằng cách lăn tấm graphene theo một hướng cụ thể, duy trì chu vi của mặt cắt ngang.