Chương 1: Tổng quan - Chương 2: Cơ sở lý thuyết - Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu - Chương 4: Phân tích kết quả - Chương 5: Kết luận và kiến nghị HV: Đặng Quốc Cường MSHV: 11011028 GVHD: TS. Văn Hồng Tấn Trang 7 Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành: Xây dựng đường ô tô và đường thành phố CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Các nghiên cứu trước đây 2.1 Các nghiên cứu ngoài nước - Trên thế giới trong khoảng một thập niên gần đây đã có nhiều tổ chức tập trung nghiên cứu - phát triển hệ thống điều khiển tín hiệu giao thông ưu tiên cho các phương tiện vận tải tại các nút giao. Những nghiên cứu này chủ yếu tập trung xử lý và chuyển tín hiệu ưu tiên cho tất cả các phương tiện tham gia giao thông TSP (Transit Signal Priority) hay chỉ ưu tiên riêng cho xe buýt (Bus Priority Design).
- Tại các nước đều có những tổ chức hoặc cá nhân tiến hành nghiên cứu và áp dụng nhưng không có một quy trình “chuẩn” nào được đưa ra, riêng tại Mỹ vào năm 2005 Bộ GTVT Hoa Kỳ & Cơ quan quản lý giao thông liên bang đã xuất bản: “Transit Signal Priority: A Planning and Implementation Handbook”. TSP được xem là sổ tay tham khảo về vấn đề trên và cũng được xem như là một quy trình thực hiện. Để củng cố thêm về TSP, năm 2008 Bộ GTVT Hoa Kỳ đã phát hành: “Transit Signal Priority Research Tools”, là một tài liệu hướng dẫn về hệ thống các công cụ, thiết bị, công nghệ … có thể áp dụng phương pháp ra ngoài thực tế. - Bài nghiên cứu “The impact of detector placement on signalizel intersection performment” của Daniela Koltovska và Kristi M.Bombol tiến hành tại Macedonia vào năm 2009, thông qua mô hình mô phỏng để đánh giá hiệu quả khai thác đèn tín hiệu giao thông, so sánh giữa hai phương án: đèn giao thông có chu kỳ cố định và đèn giao thông được điều khiển thông quan thiết bị quan trắc.
- Đến thời điểm hiện nay, tại các thành phố lớn trên thế giới đều áp dụng hệ thống ưu tiên xe buýt, từ những phương pháp đơn giản đến hệ thống phức tạp như: ưu tiên xe buýt bằng các các thiết bị quan trắc đơn giản được bố trí ngay phạm vi nút giao; sử dụng các tuyến xe buýt nhanh chạy trên làn đường ưu tiên riêng biệt; hoặc áp dụng hệ thống điều khiển công nghệ cao là dạng định vị xe tự động AVL (Automatic Vehicle Location) kết hợp GPS (Globe Position System). HV: Đặng Quốc Cường MSHV: 11011028 GVHD: TS. Văn Hồng Tấn Trang 8 Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành: Xây dựng đường ô tô và đường thành phố - Theo “ Review of Bus Priority at Traffic Signals around the World” được thực hiện vào năm 2009 bởi một nhóm các nhà nghiên cứu, nội dung của báo cáo tập trung vào tổng hợp các phương pháp điều khiển ưu tiên xe buýt tại một số thành phố trên khắp thế giới, quy trình hoạt động của các hệ thống này, và cuối cùng là đánh giá hiệu quả của từng hệ thống. Một số hệ thống ưu tiên xe buýt được áp dụng tại một số nước như sau: + Tại bang Portland-Mỹ: áp dụng hệ thống ưu tiên xe buýt sử dụng hệ thống quan trắc bằng sóng hồng ngoại, đó là kỹ thuật không xâm nhập, thiết bị quan trắc được đặt ở trên trụ đèn giao thông.
Dự án này thực hiện trên 8 trục đường với 250 nút giao và thực hiện ưu tiên cho khoảng 650 xe buýt. Mục tiêu của dự án là cải thiện chất lượng phục vụ, đảm bảo thời gian đi lại trên lộ trình. Tín hiệu ưu tiên được áp dụng là gia tăng thời gian xanh (7-10s) hoặc rút ngắn thời gian đỏ với thời gian khống chế là 30s hoặc trễ hơn. + Ở London-Anh: từ năm 2009 đã áp dụng hệ thống định vị xe tự động AVL để ưu tiên cho xe buýt.
Dự án được tiến hành với quy mô lớn, kiểm soát tín hiệu ưu tiên tại 3200 nút giao và ưu tiên cho hơn 8000 xe buýt. Thay vì phải điều chỉnh cơ sở hạ tầng để nâng cao khả năng vận chuyển hành khách, thì TP đã chọn giải pháp điều khiển tín hiệu ưu tiên xe buýt với chi phí được tiết giảm rất nhiều và kết quả thu được cũng được nâng cao: thời gian trễ giảm 29% vào giờ bình thường và đạt 35% vào giờ cao điểm buổi sáng. + Ngoài ra, hệ thống xe buýt nhanh cũng được áp dụng nhiều nước. Hệ thống này được ưu tiên làn đường riêng, tốc độ khai thác cao hơn các phương tiện khác trong cùng dòng xe.
Để tiết giảm đến mức thấp nhất thời gian tổn thất khi dừng đón trả khách, nhiều biện pháp đã được đưa ra như: sàn xe thấp giúp lên xuống nhanh chóng, bán vé ngoài xe, dịch vụ liên tục … Nhiều nước áp dụng thành công hệ thống này với lượng khách trên ngày đạt trên 1 triệu như: Brazil, Colombia, Trung Quốc; và tại Đông Nam Á nước đầu tiên áp dụng là Indonesia, với chiều dài tuyến khai thác là 172 Km, dài nhất thế giới, hệ thống này được khai thác rất thành công.2 Các nghiên cứu trong nước - Ở TP.HCM cũng như trong nước, thực sự chưa có nhiều công trình nghiên cứu về hệ thống giao thông thông minh, đặc biệt là hệ thống ưu tiên riêng cho xe buýt. HV: Đặng Quốc Cường MSHV: 11011028 GVHD: TS. Văn Hồng Tấn Trang 9 Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành: Xây dựng đường ô tô và đường thành phố - Đề tài cấp nhà nước: “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ tự động hóa trong điều hành và quản lý hệ thống giao thông đô thị” của PGS.TS Lê Hùng Lân (ĐH GTVT) vào năm 2005. Đề tài này tập trung nghiên cứu về ITS nói chung, mang tính chất giới thiệu về hệ thống, thiết bị công nghệ áp dụng, phần mềm mô phỏng, khả năng áp dụng vào hai đô thị lớn là Hà nội và TP.
Đề tài không đi sâu vào lý tính tính toán, nhưng cũng có nhiều ý nghĩa bước đầu trong việc đưa ITS vào khai thác ở Việt Nam. - Một đề tài nghiên cứu vừa được nghiệm thu năm 2014: “Xây dựng cấu trúc hệ thống giao thông thông minh và các quy chuẩn công nghệ thông tin, truyền thông, điều khiển áp dụng trong hệ thống giao thông thông minh tại Việt Nam” do TS. Tạ Anh Tuấn là chủ nhiệm đề tài cùng các cộng sự tại Trung tâm tin học và tính toán, Viện hàn lâm KH&CN Việt Nam thực hiện. Nội dung cơ bản của đề tài là nghiên cứu công nghệ áp dụng trong phát triển hệ thống giao thông thông minh tại Việt Nam, với các hệ thống thành phần, chuẩn giao tiếp… Đề tài đã được thử nghiệm thành công trên tuyến đường Cầu Giẽ - Ninh Bình, hệ thống camera giám sát giao thông thành phố Hà Nội, hệ thống kiểm soát thu phí đường bộ Trạm Hoàng Mai và Bãi Cháy.HCM đang thực hiện dự án xây dựng trung tâm điều khiển giao thông với tổng mức đầu tư khoảng 131 triệu euro từ vốn ODA của chính phủ Pháp, đơn vị quản lý là Khu quản lý giao thông đô thị số 1.
Trung tâm này sẽ điều khiển đèn giao thông tại hơn 1400 nút giao, quản lý xe buýt, thu phí, quản lý an toàn giao thông … Dự án đang trong giai đoạn hoàn chỉnh đề cương. Trước đó, từ năm 1998 đến 2005, có 159 đèn tín hiệu được lắp đặt hệ thống theo dõi và liên kết mạng nhưng hiện đã bị mất tần số và đứt cáp đường truyền từ đèn đến trung tâm điều khiển.HCM, đang có đề tài nghiên cứu áp dụng tuyến xe buýt nhanh BRT (Bus Rapid Transit) trên Đại lộ Võ Văn Kiệt, chương trình do ngân hàng thế giới WB tài trợ, Sở GTVT TP. Hiện tại đề tài này đang được nghiên cứu khả thi “Giai đoạn 2”, thời gian muộn nhất để triển khai là năm 2017. HV: Đặng Quốc Cường MSHV: 11011028 GVHD: TS.
Văn Hồng Tấn Trang 10 Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành: Xây dựng đường ô tô và đường thành phố 2.2 Lý thuyết dòng xe - Dòng xe bao gồm tất cả yếu tố cấu thành nên dòng chuyển động của xe trên đường. Đặc điểm của mỗi dòng xe là quá trình tổng hòa tương tác của các yếu tố cấu thành dòng xe đó như: + Đặc điểm của người điều khiển phương tiện + Đặc điểm của phương tiện + Đặc điểm hình học tuyến đường-nút giao + Lưu lượng, mật độ dòng xe + Vận tốc xe/Vận tốc khai thác + Hệ thống thiết bị tín hiệu giao thông - Sự tương tác giữa người điều khiển phương tiện và hệ thống tín hiệu giao thông là quan trọng nhất, việc tương tác đó phụ thuộc vào các yếu tố: trạng thái của đèn tín hiệu, tốc độ xe, khoảng cách từ xe đến vạch dừng, thái độ-tâm lý của người lái. Quá trình tương tác của tất cả các yếu tố này tạo nên đặc điểm của dòng xe. - Sự chuyển động của mỗi xe trong dòng xe đều theo những quy luật chung, xét trên không gian hai chiều là sự di chuyển theo phương dọc và phương ngang.
Chuyển động của xe được xây dựng với nhiều mô hình khác nhau, tùy thuộc vào đối tượng cần nghiên cứu trong dòng xe. - Các mô hình được sử dụng trong mô phỏng chuyển động của dòng xe: + Mô hình xe theo xe: Mô hình này xét sự di chuyển của xe theo phương dọc. Về cơ bản mô hình xe theo xe được chia thành 4 nhóm: • Mô hình khoảng cách an toàn • Mô hình General Motors hay GHR • Mô hình phân vùng • Mô hình tinh thần-thể trạng + Mô hình thay đổi làn: Mô hình thay đổi làn xét sự di chuyển của xe theo phương ngang, việc thay đổi làn thể hiện việc chuyển làn của một xe đang di chuyển. Quá trình này gồm 2 bước HV: Đặng Quốc Cường MSHV: 11011028 GVHD: TS.
Văn Hồng Tấn Trang 11 Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành: Xây dựng đường ô tô và đường thành phố cơ bản: quá trình lựa chọn làn và quá trình chuyển làn, nhưng ngay khi quyết định chuyển làn thì người lái phải xem xét gián cách thời gian với xe trước-sau có đảm bảo không, nếu an toàn thì chuyển ngay, còn nếu không thì phải chờ. Các quá trình trên được xét qua 2 mô hình: • Mô hình lựa chọn làn • Mô hình lựa chọn gián cách thời gian 2.3 Hệ thống giao thông thông minh ITS 2.1 Khái quát chung - ITS (Intelligent Transportation System) áp dụng trong giao thông công cộng là ứng dụng kỹ thuật phát hiện phương tiện lưu thông trên đường & điều khiển đèn tín hiệu ưu tiên phương tiện giao thông qua giao lộ.