Chương 1: Tổng quan về bán phá giá, thuế chống bán phá giá và hiệp định chống bán phá giá của WTO. Chương 2: Kinh nghiệm áp dụng thuế chống bán phá giá tại một số nước thành viên của WTO. Chương 3: Một số gợi ý liên quan đến việc áp dụng thuế chống bán phá giá ở Việt Nam. TỔNG QUAN VỀ BÁN PHÁ GIÁ, THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ HIỆP ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA WTO 1.
Một số vấn đề chung về bán phá giá và thuế chống bán phá giá 1. Khái niệm bán phá giá và ý nghĩa kinh tế của việc bán phá giá 1. Khái niệm bán phá giá Trong ngôn ngữ tiếng việt, “bán phá giá” thường được hiểu là hành động bán một mặt hàng với giá thấp hơn giá hiện hành của mặt hàng đó trên thị trường, làm cho những người khác phải hạ giá bán. Như vậy ở đây có sự so sánh về giá trên cùng một thị trường.
Tuy nhiên, khái niệm bán phá giá trong thương mại quốc tế có hàm ý so sánh về giá ở hai thị trường khác nhau: thị trường nước nhập khẩu và thị trường nước xuất khẩu, mặc dù giá bán ở thị trường tiêu thụ (nước nhập khẩu) có thể không khác nhau, thậm chí có thể xảy ra trường hợp giá bán cao hơn giá hiện hành. 14 z Bán phá giá được định nghĩa dựa trên các khái niệm sau: Theo Khoản 1, Điều VI của GATT 1994: “. bán phá giá, là cách hàng hóa của một nước được đưa vào thị trường của nước khác với mức giá thấp hơn giá trị thông thường của hàng hóa,., một hàng hóa được coi là bị bán phá giá, có nghĩa là được đưa vào thị trường của nước khác ở mức giá thấp hơn giá trị thông thường, nếu giá xuất khẩu của một hàng hóa được xuất khẩu từ một nước sang nước khác thấp hơn giá có thể so sánh được, trong điều kiện thương mại thông thường, là giá của hàng hóa tương tự được bán để tiêu dùng tại nước xuất khẩu đó.1, Pháp lệnh Chống phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam (Pháp lệnh): “Hàng hóa có xuất xứ từ nước hoặc vùng lãnh thổ bị coi là bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam nếu hàng hóa đó được bán với giá thấp hơn giá thông thường. Nếu đọc lướt qua, định nghĩa này thật đơn giản, chỉ việc so sánh giữa giá xuất khẩu với giá bán tại nội địa, nếu giá xuất khẩu thấp hơn giá nội địa tức là có sự bán phá giá.
Tuy nhiên, sự việc lại không đơn giản chút nào khi một loạt câu hỏi được đặt ra cần giải quyết khi so sánh giá để đảm bảo sự chính xác và công bằng: giá nội địa là giá nào? Là giá bán buôn hay giá bán lẻ? Giá xuất khẩu là giá nào? v. Tác động của việc bán phá giá Tác động của việc bán phá giá được đánh giá một cách đơn giản theo hình dưới đây. Trước khi có việc hàng của nước khác được bán vào thị trường 15 z một nước với giá thấp hơn giá hiện hành, cung và cầu mặt hàng đó cân bằng ở điểm E, với giá P1 và lượng tiêu thụ Q1, hoàn toàn là hàng sản xuất trong nước. Tuy nhiên, khi có nguồn hàng nước ngoài bán với giá thấp hơn là P2, lượng tiêu thụ tăng lên Q2, trong đó lượng hàng sản xuất trong nước giảm xuống chỉ còn Q’2, lượng hàng nhập khẩu là Q2 - Q’2.
Tác động của việc bán phá giá Từ hình này cho thấy thặng dư của người tiêu dùng tăng thêm một lượng bằng diện tích hình thang ABDE, trong khi đó thặng dư của nhà sản xuất trong nước giảm một lượng bằng diện tích hình thang ABCE. Như vậy, có thể thấy tác động của việc bán phá giá là: gây thiệt hại cho ngành sản xuất 16 z nội địa nhưng lại mang lại lợi ích cho người tiêu dùng. Về tổng thể, toàn xã hội được lợi bằng diện tích tam giác CDE. Xuất phát từ thành kiến cố hữu, việc “bán phá giá” thường được coi là có tác động tiêu cực, thường vì lý do làm giảm lợi nhuận của những người bán hàng khác hoặc gây thiệt hại cho các nhà sản xuất cùng một mặt hàng của nước nhập khẩu, cho nên người ta thường tìm biện pháp để chống lại hành động này.
Tuy nhiên, cần phải có sự phân tích thấu đáo bản chất của mọi trường hợp bán phá giá để xem có phải mọi hành động bán phá giá đều có hại hay không để từ đó có biện pháp đối phó thích ứng. Có thể hình dung các trường hợp bán phá giá sau đây: Thứ nhất, giá xuất khẩu thấp hơn giá thị trường nội địa nước xuất khẩu nhưng vẫn cao hơn chi phí sản xuất; Thứ hai, giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất và tất nhiên là thấp hơn giá thị trường trong nước. Trong trường hợp này còn có thể xảy ra một số tình huống khác nhau, tùy thuộc vào định nghĩa chi phí sản xuất: chi phí bình quân hay chi phí biên. - Trường hợp thứ nhất: giá xuất khẩu thấp hơn giá thị trường nội địa nhưng cao hơn chi phí sản xuất.
Trường hợp này có thể xảy ra khi một hãng chiếm vị thế độc quyền hoặc gần như độc quyền ở thị trường nội địa xuất phát từ điều kiện tự nhiên hoặc do được hưởng lợi thế từ hàng rào thương mại, nhưng phải cạnh tranh ở thị trường nước xuất khẩu. Trong trường hợp này, vì mục đích tối đa hóa lợi nhuận, hãng đó sẽ lợi dụng vị thế độc quyền của mình để ấn định giá bán trong nước cao hơn, chừng nào thị trường đó còn chấp nhận được. Trong khi đó, do phải cạnh tranh ở thị trường nước xuất khẩu, hãng đó chỉ có thể bán với giá đang tồn tại ở thị trường đó. Như vậy đã xảy ra hiện tượng bán phá giá như định nghĩa ở trên.
17 z Nếu việc bán phá giá này không làm giá ở thị trường nước nhập khẩu thay đổi (do cạnh tranh ở đây hoàn hảo), sẽ không làm ảnh hưởng đến lợi ích của nước nhập khẩu, và vì thế sẽ không cần phải có biện pháp chống lại. Tuy nhiên, nếu việc bán phá giá này xảy ra với một lượng lớn và trong thời gian dài, làm giảm giá ở thị trường nước nhập khẩu, sẽ gây tác động đến lợi ích của nước nhập khẩu. Người tiêu dùng sẽ được lợi từ giá thấp, nhưng ngược lại các nhà sản xuất và công nhân trong ngành công nghiệp đó sẽ bị thiệt hại vì lợi nhuận và lương bị giảm. Lợi ích cuối cùng của nước nhập khẩu phụ thuộc vào việc lợi ích của người tiêu dùng có lớn hơn thiệt hại của người sản xuất và công nhân hay không.
Ngay cả trong trường hợp về tổng thể nước nhập khẩu bị thiệt hại cũng khó có lý do để áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa của hãng đó nhằm khắc phục thiệt hại bởi vì hãng đó có thể lập luận rằng do điều kiện thị trường của nước nhập khẩu là cạnh tranh, bất kỳ hãng nào cũng có thể tham gia thị trường đó và làm cho giá giảm xuống. Tuy nhiên, để khắc phục thiệt hại, nước nhập khẩu có thể áp dụng các biện pháp được phép khác như tự vệ. - Trường hợp thứ hai: Giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất. Trước hết, để hiểu được ý nghĩa kinh tế của việc bán phá giá thấp hơn chi phí, cần phân biệt các loại chi phí.
Thông thường, chi phí sản xuất được phân biệt theo hai loại: chi phí bình quân (average cost) và chi phí biên (marginal cost). Chi phí bình quân được tính bằng tổng tất cả các chi phí một hãng phải chịu chia cho lượng sản phẩm sản xuất ra. Chi phí biên là chi phí phải bỏ ra để sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm. Sự phân bịêt này có ý nghĩa quan trọng trong ngắn hạn khi nhiều loại chi phí sản xuất là cố định, không phụ thuộc vào số lượng sản xuất, chỉ có một phần nhỏ chi phí sản xuất là thay đổi khi lượng sản xuất thay đổi.
Chính chi phí biên là yếu tố quyết định trong 18 z việc định giá của một hãng trong thời gian ngắn hạn khi phải chịu chi phí nhất định để thâm nhập một thị trường. Khi nhu cầu của thị trường giảm, kéo theo giá thị trường giảm, và các hãng theo đó cũng phải giảm giá bán. Nếu giá bán thấp hơn chi phí bình quân, hãng đó sẽ bị lỗ. Tuy nhiên, khi một phần chi phí là cố định không phụ thuộc vào lượng sản xuất, mức độ lỗ sẽ phụ thuộc vào lượng hàng bán ra và vào mức chi phí biên.
Nếu giá bán vẫn cao hơn chi phí biên, hãng vẫn tiếp tục bán với hy vọng sau một thời gian ngắn thị trường sẽ hồi phục, hoặc chỉ để giảm thiệt hại trước khi rút lui khỏi thị trường đó. Đây là sự phản ứng rất bình thường của các hãng đối với sự thay đổi của thị trường, kể cả các hãng nước ngoài và hãng nội địa. Trong trường hợp này, việc áp dụng một biện pháp chống hàng nhập khẩu là bất hợp lý vì như vậy sẽ đối xử không công bằng giữa hãng nội địa và hãng nước ngoài. Tuy nhiên, một nước vẫn có thể áp dụng các chính sách hỗ trợ cho các hãng nội địa giảm nhẹ thiệt hại dưới hình thức các biện pháp tự vệ.
Cũng có những trường hợp các hãng bán với giá thấp hơn chi phí biên. Trong các trường hợp này không thể xem xét hành động của các hãng với mục tiêu là nhằm tối đa hóa lợi nhuận mà vì các mục tiêu khác. Chiếm lĩnh thị trường. Một hãng nước ngoài, với mục tiêu thiết lập vị thế độc quyền ở thị trường nội địa, thực hiện chính sách bán sản phẩm của mình với giá thấp hơn chi phí biên cho đến khi đẩy hết các đối thủ cạnh tranh khác ra khỏi thị trường mặt hàng đó.
Sau khi chiếm được thị trường, hãng đó lại nâng giá để khai thác lợi thế độc quyền của mình. Ngoài tác động làm cho các nhà sản xuất trong nước bị phá sản, hành động này còn làm giảm lợi ích của toàn xã hội như trong trường hợp độc quyền khác, và do vậy cần có biện pháp ngăn cản. 19 z Cạnh tranh giành thị phần. Một trong những biện pháp marketing các hãng có thể sử dụng để cạnh tranh nhằm tăng thị phần trên một thị trường là bán với giá thấp hơn chi phí biên trong một thời gian ngắn với hy vọng lượng hàng bán tăng trong tương lai với giá bình thường sẽ bù đắp phần lỗ.