Chương 1. TỎNG QUAN VẺ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ANH SO. Anh tai liệu cũng là một đối tượng của xử lý ảnh số. Chính vì vậy, nội đung chương này nhằm tông kết lại các kiến thức nên tảng về nâng cao chất lượng ảnh số, tạo cơ sở cho việc phân tích các thuật toán nâng cao chất lượng.
ảnh tài liệu được lựa chọn trong chương 2. Phần đầu chương sẽ giới thiệu tổng quan về xử lý ảnh số, phân tiếp theo tập trung vào các thuật toán nâng. cao chất lượng ảnh phô biến (bao gồm tăng cường ảnh và khôi phục ảnh). Cuối cùng là một số ứng đụng cơ bản của nâng cao chất lượng ảnh số.
Tổng quan xử lý ảnh số 1. Tông quan về một hệ thống xử lý ảnh “Xử lý ảnh là đối tượng nghiên cứu của lĩnh vực thị giác máy, là quá trình biển đôi từ một ảnh ban đầu sang một ảnh mới với các đặc tính và tuân theo ý muốn của người sử đụng. Xử lý ảnh có thể gồm quá trình phân tích, phân lớp các đối tượng, làm tăng chất lượng, phân đoạn và tách cạnh, gán nhãn cho vùng hay quá trình biên địch các thông tin hình ảnh của ảnh. Cũng như xử lý đữ liệu bằng đỏ hoạ, xử lý ảnh số là một lĩnh vực của.
tin học ứng đụng. Xử lý đữ liệu bằng đỏ hoạ đề cập đến những ảnh nhân tạo, các ảnh này được xem xét như là một cấu trúc dữ liệu và được tạo ra bởi các chương trình. Xử lý ảnh số bao gồm các phương pháp và kĩ thuật để biến đổi, để truyền tải hoặc mã hoá các ảnh tự nhiên. Mục đích của xử lý ảnh gồm: Biế lỗi ảnh, làm tăng chất lượng ảnh.
"Tự động nhận đạng, đoán nhận, đánh giá các nội dung của ảnh. Các bước cần thiết trong xử lý ảnh được mô tả chỉ tiết trong Hình 1.1 'bao gồm các bước sau: SCANNER Laat Hi Qainh Hinh 1. Céc giat đoạn chính trong xử lý ảnh Đầu tiên là quá trình thu nhận ảnh. Ảnh có thể thu nhận được qua.
Thường khi thu nhận ảnh qua camera là tín hiệu tương tự (loại camera ống kiểu CCIR), nhưng cũng có thể là tín hiệu số hóa (loại CCD- Charge Coupled Device). Ảnh cũng có thể thu nhận từ vệ tỉnh qua các bộ cảm ứng (sensor), hay ảnh tranh được quét trên scanner. Tiếp theo là quá trình số ‘hoa (Digitalizer) để biến đôi tín hiệu tương tự sang tín hiệu rời rạc (lấy mẫu) và số hóa bằng lượng hóa, trước khi chuyển sang giai đoạn xử lý, phân tích hay lưu trữ lại. Trước hết là công việc tăng cường ảnh để nâng cao chất lượng.
Do những nguyên nhân khác nhau: có thễ do chất lượng thiết bị thu nhận ảnh, đo nguồn sáng hay do nhiều, ảnh có thể bị suy biến do vậy cần phải tăng cường và khôi phục lại ảnh để làm nỗi bật một số đặc tính chính của ảnh, hay làm cho ảnh gần giống nhất với trạng thái gốc - trạng thái trước khi bị biến. Giai đoạn tiếp theo là phát hiện các đặc tính như biên, phân vùng ảnh, trích chọn các đặc tính. Cuối cùng tùy theo mục đích của ứng dụng, sẽ là giai đoạn nhận đạng, phân lớp hay các quyết định khác. Ảnh trắng đen thực chất là một hàm hai chiều của cường độ sángƒf,y trong dé x vay la cdc toa độ không gian và giá trị của hàm ftai một điểm đ, tỷ lệ với cường độ sáng của ảnh tại điểm đó.
N lếu chúng ta có một ảnh mẫu thì fla mét vector ma mỗi thành phần của vector đó chỉ ra cường độ sáng của ảnh tại điểm (x,y) đó tương ứng với đãi mâu. Để đơn giãn ở đây ta chỉ xét đến ảnh số. Một ảnh số là một ảnh mà hàm. đc của nó đã được rời rạc hoá theo cả toa độ không gian và cường độ sáng, của nó.
Ảnh trắng đen thì nó được biểu điễn theo một mảng hai chiều còn ảnh. mẫu được biểu điễn theo một chuỗi các mảng hai chiều mà mỗi mảng hai chiều đồ tương ứng với một đãi mẫu. Giá tị cường độ sáng đã được số hoá được gọi là giá trị mức xám 2]. Mỗi thành phần của mảng được gọi là một điểm anh (pixel: picture clement) va là phẩn tử nhỏ nhất cấu tạo nên ảnh.
Điểm ảnh được hiểu như 1 đấu hiệu hay cường độ sáng tại một tọa độ xác định trong không gian. Hình ảnh được xem như là 1 tập hợp các điểm. Với cùng kích thước néu sit dung cảng nhiều điểm ảnh thì bức ảnh cảng dep, cing min và càng thể hiện rõ hơn chỉ tiết của ảnh người ta gọi đặc điểm này là độ phân giải. Việc lựa chọn độ.
phân giải thích hợp tuỳ thuộc vào nhu cầu sử dụng và đặc trưng của mỗi ảnh cụ thé, trên cơ sở đó các ảnh thường được biểu điễn theo 2 mô hình cơ bản là raster va vector. "Mô hình Raster cách biễu diễn ảnh thông dung nhất hiện nay, ảnh được biểu điễn đưới đạng ma trận các điểm ảnh thu nhận qua các thiết bị như. Tuỷ theo yêu cầu thực thể mà mỗi điểm ảnh được biểu diễn. qua 1 hay nhiều bịt.
Mô hình Raster thuận lợi cho hiển thị va in ấn. Ngày nay công nghệ phần cứng cung cấp những thiết bị thu nhận ảnh Raster phù hợp với tốc độ nhanh và chất lượng cao cho cả đầu vào và đầu ra. Mô hình Vector là kiểu biểu điễn ảnh ngoài mục đích tiết kiệm không gian lưu trữ dé dang cho hién thi và in ấn còn đảm bảo đễ đàng trong lựa chọn. sao chếp đi chuyển tìm kiếm.
Trong mô hình Vector người ta sử đụng hướng giữa các Vector của điểm ảnh lân cận để mã hoá và tái tạo hình ảnh. ‘ban đầu ảnh Vector được thu nhận trực tiếp từ các thiết bị số hoặc được chuyển đôi từ ảnh Raster thông qua các thuật toán. * Cường độ sáng của một ảnh tại một ví trí điểm ảnh Mỗi điểm ảnh của một ảnh tương ứng với một phần của một đối tượng vật lý ton tai trong thế giới thực. Đối tượng vật lý này được chiếu sáng bởi một vài tia sáng mà tia sáng này bị phản xạ một phần hay hấp thụ một phần.
khi chiếu lên đối tượng vật lý đó. Phần ánh sáng phân xạ lại đi tới các bộ cảm. biển được sử đụng đề tạo ảnh cảm nhậnvà tạo ra các giá trị ghi nhận được đối. tượng đối với từng điểm ảnh.
Giá trị thu nhận được phụ thuộc vào phổ ánh. sáng phản xạ. Giá trị cường độ sing của các điểm ảnh khác nhau chỉ có ý nghĩa tương đối mà không cô ý nghĩa trong các toán hạng tuy: đối[12]. * Số bits cần thiết để lưu trữ một ảnh.
Ở đây chúng ta chỉ quan tâm tới ảnh xảm, nếu ảnh được lưu trữ dưới dang mét mảng hai chiêu với kích thước A%x V và có 2" mức xám thì số bits cần thiết để lưu trữ ảnh là: xWx2" aa) _Ví dụ như, một ảnh cỡ 512 x 512 với 256 (tức m=8) mức xám thì cần số bits lưu trữ là: 512 x 512 x 256=2. * Độ phân giải ảnh Độ phân giải ảnh biểu điễn mức độ chỉ tiết của ảnh mà chúng ta có thể nhìn rõ đối tượng. Khi thay đổi các giá trị m và N trong phương trình (1.1)thì sẽ cô các hiện tượng thay đổi khác nhau. Xong thực nghiệm cho thấy khi giữ nguyên kích thước ảnh và tăng s6 mic xm mlén thi sé độ chỉ tiết trong ảnh.
Nguyên tắc thực hiện xử lý ảnh Chúng ta biết thực hiện xử lý ảnh thông qua việc sử đụng hàm biển đổi ảnh. Biến đổi ảnh là quá trình thực hiện thông qua các toán tử. Một toán tử thực hiện một ảnh vào đầu vào của hệ thống và tạo ra một ảnh khác theo yêu cầu xử lý. Để thực hiện quá trình biến đổi ảnh chúng ta chủ yếu quan tam tới các toán tử tuyến tính.
Giả sử Ø() là toán tử O của một ảnh ƒ thì toán tử Ø được gọi là tuyến tính nếu ta có[3] Ø['+ðg]= aO(7)+»Ø(g) (12) Voi mọi ƒ g và 4,. Trong xử lý ảnh thì các toán tir được định nghĩa là hàm trai điểm. Một ‘ham trai điểm của một toán tử là kết quả mà chúng ta thu nhận được sau khi thực hiện cung cấp luật của toán đô cho nguồn diém:O/nguén điểmJ= hàm trải điễm Hay chúng ta có: Ø[#(x-a. 'Và nếu toán tử là tuyến tính thì ta có: of: —ey~Ø) ]= 2h(x.Ø) aa Tức nếu tăng cường độ sáng lên a lần thì kết quả thu được cũng tăng.
ột số thao tic co ban trong xử. + _ Biểu diễn ảnh Trong biểu diễn ảnh, người ta thường dùng các phần tử đặc trưng của. ảnh là pixel. Nhìn chung có thể một hàm hai biến chứa các thông tin như biểu diễn của một ảnh.
Các mô hình biểu điễn cho ta một mô tả logic hay định lượng các tính chất của hàm này. Trong biểu diễn ảnh cần chú ý đến tính trung thực hoặc các tiêu chuẩn "thông minh” để đo chất lượng ảnh hoặc tính hiệu quả của các kĩ thuật xử lý. Một số mô hình thường được đùng trong biểu diễn ảnh: mô hình bài toán, mô hình thống kê. Trong mô hình bài toán, ảnh hai chiều được biểu điền.
nhờ các hàm hai biến trực giao gọi là các hàm cơ sỡ. Còn mô hình thống kê, một ảnh được coi như một phần tử của một tập hợp đặc trưng bởi các đại lượng như: kỳ vọng toán học, hiệp biến, phuong sai, moment. = Bién déi anh (Image Transform) "Thuật ngữ biển đổi ảnh thường dùng đễ nói tới một lớp các ma trận đơn. vị và các kĩ thuật dùng để biến đôi ảnh.
Biến đôi ảnh nhằm làm giảm các nguyên nhân của ảnh để việc xử lý hiệu quả hơn. Như làm rõ hơn các thôi lg tin mà ngồi ding quan tâm nhưng người đùng phải chấp nhận mắt đi một thông tin cần thiết. *_ Phân tích ảnh Phan tích ảnh liên quan đến việc xác định các độ đo định lượng của 1 ảnh đề đưa ra một mô tả đầy đủ về ảnh. 10 Quá trình phân tích ảnh thực chất bao gồm nhiều công đoạn nhỏ.
Trước hit là công việc tăng cường ảnh để nâng cao chất lượng ảnh, giai đoạn tiếp theo là phát hiện các đặc tính như phát hiện biên, phân vùng ảnh, trích chon các đặc tính. *_ Tăng cường ảnh - khôi phục ảnh: "Tăng cường ảnh là một bước quan trọng, tạo tiền đề cho xử lý ảnh. Nó gồm các kỹ thuật như: lọc độ tương phân, khử nhiễu, nỗi màu. Khôi phục ảnh là nhằm loại bô các suy giảm trong ảnh.
iên ảnh: 'Biên là vấn đề chủ yếu trong phân tích ảnh vì các điểm trích chọn trong. quá trình phân tích ảnh đều đựa vào biên.