Tổng quan nghiên cứu

Lưới điện phân phối khu vực trung du và miền núi thường xuyên đối mặt với thách thức suy giảm chất lượng điện áp và tổn thất công suất nghiêm trọng. Điển hình tại tỉnh Bắc Kạn, Công ty Điện lực Bắc Kạn quản lý hệ thống gồm 1.707,05 km đường dây trung áp và 1.063 trạm biến áp phân phối với mật độ phụ tải thấp, phân tán. Tuyến đường dây 35kV lộ 371 xuất tuyến từ trạm biến áp 110kV E26.1 Bắc Kạn có quy mô đặc biệt lớn với trục chính dài 105,1 km và tổng chiều dài toàn tuyến đạt 707,2 km. Do đường dây quá dài và đi qua địa hình phức tạp, hệ thống thường xuyên chịu hiện tượng sụt áp sâu vào giờ cao điểm khi truyền tải công suất cực đại 5,4 MW trên máy biến áp nguồn T1 công suất 25 MVA, đồng thời tăng áp đột biến vào giờ thấp điểm do ảnh hưởng của dung kháng ký sinh trên 704,6 km đường dây không.

Các giải pháp truyền thống như lắp đặt 2 trạm máy biến áp tự ngẫu dung lượng 12.000 kVA hay trang bị 367 điểm tụ bù với tổng công suất 32.917 kVAr chỉ giải quyết được bài toán ổn định điện áp cục bộ, dễ dẫn đến hiện tượng bù thiếu vào giờ cao điểm hoặc bù thừa gây quá áp lúc non tải. Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là thiết kế hệ thống thiết bị bù công suất phản kháng kiểu tĩnh SVC cấu trúc phối hợp tụ cố định và cuộn cảm điều khiển bằng Thyristor (FC-TCR), tích hợp bộ điều khiển phản hồi PID nhằm tự động điều chỉnh liên tục công suất vô công. Công trình thực hiện trên phạm vi tuyến 35kV lộ 371 trạm E26.1 trong giai đoạn 2018–2019, mang lại ý nghĩa quan trọng trong việc đưa hệ số công suất đạt ngưỡng xấp xỉ 0,98, giảm tổn thất điện áp từ trên 10% xuống dưới 5% và tối ưu hóa năng lực truyền tải của lưới điện trung áp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết truyền tải công suất xoay chiều và nguyên lý cân bằng năng lượng trong tam giác công suất. Công suất biểu kiến được xác định theo biểu thức tổng hợp giữa công suất tác dụng và công suất phản kháng. Khi truyền tải lượng công suất vô công lớn, dòng điện chạy trên dây dẫn tăng cao, làm gia tăng tổn thất công suất theo hàm bậc hai của dòng điện và gây độ sụt áp tỷ lệ thuận với cảm kháng đường dây.

Hệ thống bù tĩnh công suất phản kháng SVC với cấu trúc phối hợp FC-TCR được lựa chọn làm giải pháp nền tảng. Mô hình bao gồm nhánh tụ bù cố định (FC) cung cấp dung kháng cực đại và nhánh cuộn kháng điều khiển bằng Thyristor (TCR) mắc song song ngược chiều. Bằng cách thay đổi góc kích mở Thyristor trong dải từ 0 độ đến 180 độ theo nguyên lý điều khiển pha đứng, độ dẫn nạp tương đương của nhánh cảm kháng thay đổi trơn, cho phép thiết bị hấp thụ chính xác lượng công suất phản kháng dư thừa. Ba khái niệm chuyên ngành cốt lõi xuyên suốt mô hình gồm: công suất phản kháng vô công, hệ số công suất và góc kích mở van bán dẫn. Cơ chế điều khiển tự động sử dụng giải thuật vòng kín PID, tính toán sai lệch giữa hệ số công suất đo được và giá trị đặt để xuất tín hiệu điều khiển điện áp tức thời.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ báo cáo kỹ thuật vận hành năm 2018 của Công ty Điện lực Bắc Kạn, bao quát toàn bộ 14 lộ xuất tuyến trung áp. Cỡ mẫu nghiên cứu tập trung chuyên sâu vào toàn bộ hệ thống lộ 371 trạm E26.1, bao gồm 368 trạm biến áp phân phối 35/0,4kV với tổng dung lượng đặt 36.135,5 kVA và 707,2 km đường dây. Phương pháp chọn mẫu điển hình có chủ đích được áp dụng vì đây là tuyến huyết mạch dài nhất, có độ sụt áp lớn nhất và mức độ phức tạp cao nhất trên địa bàn tỉnh.

Phương pháp phân tích kết hợp giữa giải tích tối ưu hóa kinh tế và mô phỏng số. Tác giả xây dựng bài toán tối ưu hàm tổng chi phí tính toán nhằm xác định chính xác dung lượng bù kinh tế tại từng nút tải. Mô hình hệ thống được mô phỏng chi tiết trên môi trường Matlab/Simulink thông qua sơ đồ đường dây 4 đoạn tham số tập trung gồm điện trở, điện cảm và điện dung rải. Các tham số bộ điều khiển PID được xác định và tinh chỉnh thông qua phương pháp thực nghiệm Ziegler-Nichols kết hợp phương pháp thử sai, đảm bảo hệ thống đạt độ ổn định nhanh và triệt tiêu độ quá điều chỉnh trong thời gian thực hiện nghiên cứu từ năm 2018 đến năm 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực trạng và thử nghiệm mô hình mô phỏng đã mang lại 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, phân tích số liệu vận hành cho thấy lưới điện 35kV lộ 371 trạm E26.1 có mức độ sụt áp cuối tuyến lên tới 8,33% vào thời điểm đầy tải với công suất 5,4 MW, trong khi vào chế độ non tải 1 MW thì điện áp cuối đường dây lại tăng vượt quá 105% điện áp danh định do phát sinh dòng dung lượng ký sinh trên 704,6 km đường dây trên không.

Thứ hai, các phương thức bù truyền thống bộc lộ rõ hạn chế cơ cấu: tổng dung lượng 1.650 kVAr tụ bù trung áp và 2.970 kVAr tụ bù hạ áp chỉ vận hành theo các cấp cố định, khiến hệ số công suất trồi sụt từ mức thấp 0,82 vào giờ cao điểm đến trạng thái bù dư làm phát sinh dòng điện ngược vào giờ thấp điểm.

Thứ ba, mô hình bù tĩnh FC-TCR điều khiển góc mở Thyristor đặt tại cấp điện áp 35kV đã cải thiện vượt bậc chất lượng điện năng. Hệ số công suất sau khi đóng hệ thống bù được nâng từ 0,82 lên mức 0,98 đến 0,99, đồng thời mức độ sụt giảm điện áp trên toàn tuyến được kéo giảm từ 40% đến 60% so với khi chưa lắp đặt thiết bị bù.

Thứ tư, giải pháp ghép nối tiếp các van Thyristor kết hợp mạch chia áp điện trở công suất, mạch dập RC và hệ thống biến áp xung điều khiển đã triệt tiêu hoàn toàn xung điện áp quá độ, cho phép mở van đồng thời với độ trễ chuyển mạch cực nhỏ chỉ trong khoảng 200 đến 600 micro giây.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi tạo nên sự vượt trội của cấu trúc FC-TCR là khả năng điều chỉnh vô cấp và liên tục dung kháng tương đương. Khi phụ tải tăng cao, nhánh TCR khép góc kích để giảm dòng cảm kháng, cho phép nhánh tụ FC phát tối đa công suất phản kháng vào lưới. Ngược lại, khi phụ tải giảm thấp, nhánh TCR mở rộng góc dẫn để cuộn cảm tiêu thụ lượng công suất phản kháng dư thừa từ tụ điện và đường dây.

Kết quả nghiên cứu được minh chứng trực quan qua các đồ thị miền thời gian trên Matlab/Simulink. Dạng sóng điện áp 3 pha hình sin chuẩn tần số 50 Hz tại nút cuối nguồn chuyển từ trạng thái biến dạng, sụt biên độ sang trạng thái ổn định đồng pha với điện áp đầu nguồn máy biến áp 25 MVA. Bảng so sánh các chỉ tiêu kỹ thuật khẳng định thiết bị bù tĩnh SVC vượt trội hoàn toàn so với việc lắp đặt 2 máy biến áp tự ngẫu 12.000 kVA về mặt giảm tổn thất công suất tác dụng và chi phí xây dựng trạm, đồng thời khắc phục triệt để nhược điểm hao mòn tiếp điểm cơ khí của các bộ tụ bù đóng cắt bằng contactor.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả tính toán và mô phỏng, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật cụ thể nhằm hiện thực hóa hệ thống bù tĩnh trên lưới điện phân phối:

Một là, triển khai chế tạo thử nghiệm và lắp đặt 1 trạm bù tĩnh SVC cấu trúc FC-TCR công suất 3.000 kVAr tại nút trung tâm phụ tải huyện Pác Nặm trên lộ 371 E26.1 trong giai đoạn 2020–2022, hướng tới mục tiêu duy trì hệ số công suất toàn tuyến trên 0,95 và kéo giảm tỷ lệ tổn thất điện năng kỹ thuật từ 6,7% xuống dưới 4,5% do Công ty Điện lực Bắc Kạn làm chủ đầu tư.

Hai là, tích hợp khối điều khiển số PID sử dụng vi điều khiển chuyên dụng kết nối đồng bộ về hệ thống SCADA của Trung tâm điều khiển xa Bắc Kạn trong vòng 12 tháng, bảo đảm thời gian đáp ứng điều chỉnh góc kích mở Thyristor dưới 50 mili giây do Phòng Điều độ và Công nghệ thông tin thực hiện.

Ba là, chuẩn hóa thiết kế chuỗi Thyristor trung thế nối tiếp với mạch bảo vệ quá áp biến thiên RC và van chống sét oxit kim loại, đảm bảo khả năng chịu đựng xung sét trên 75 kV và cách điện an toàn cho cấp điện áp 35kV, hoàn thành trong thời hạn 18 tháng dưới sự phối hợp giữa đơn vị nghiên cứu và các nhà sản xuất thiết bị điện tử công suất.

Bốn là, ban hành quy trình kiểm tra, bảo dưỡng định kỳ các bộ phát xung biến áp xung và hệ thống làm mát van bán dẫn công suất, khống chế tỷ lệ sự cố điều khiển ở mức dưới 0,1% trên năm, áp dụng nhân rộng trên toàn Tổng công ty Điện lực miền Bắc trong giai đoạn 2021–2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, kỹ sư quản lý vận hành và điều độ viên tại các công ty điện lực khu vực miền núi. Luận văn cung cấp phương pháp luận thực tế để phân tích tổn thất và giải quyết bài toán sụt áp trên các xuất tuyến đường dây hình tia có chiều dài lớn từ 50 km đến trên 100 km.

Thứ hai, chuyên gia nghiên cứu và phát triển thiết bị điện tử công suất FACTS. Tài liệu trình bày chi tiết sơ đồ mạch lực, mạch tạo xung điều khiển pha đứng và giải pháp ghép nối tiếp Thyristor chịu điện áp 35kV trực tiếp mà không cần qua máy biến áp trung gian phức tạp.

Thứ ba, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kỹ thuật điện. Mô hình toán học về hàm chi phí kinh tế kết hợp sơ đồ mô phỏng hệ thống đường dây 4 đoạn trên Matlab/Simulink là học liệu tham khảo giá trị cho các môn học về điều khiển hệ thống điện và chất lượng điện năng.

Thứ tư, cán bộ lập quy hoạch và phân tích đầu tư dự án năng lượng. Báo cáo cung cấp căn cứ định lượng so sánh hiệu quả kinh tế giữa việc trang bị thiết bị bù tĩnh thông minh với các phương án tốn kém như xây mới trạm 110kV hoặc nâng tiết diện dây dẫn.

Câu hỏi thường gặp

Cấu trúc bù FC-TCR có ưu điểm gì vượt trội so với các bộ tụ bù đóng cắt bằng contactor truyền thống? Hệ thống FC-TCR kết hợp giữa tụ bù cố định và cuộn cảm điều khiển bằng góc kích Thyristor cho phép điều chỉnh công suất phản kháng liên tục và vô cấp. Cơ chế này loại bỏ hoàn toàn tình trạng bù thừa hoặc bù thiếu, không gây sốc điện áp khi chuyển mạch và rút ngắn thời gian đáp ứng xuống dưới 20 mili giây so với độ trễ hàng giây của contactor cơ khí.

Tại sao cần phải mắc nối tiếp nhiều van Thyristor trong sơ đồ thiết bị bù trung áp 35kV? Điện áp làm việc 35kV vượt quá giới hạn chịu đựng điện áp của một van bán dẫn đơn lẻ, đòi hỏi phải ghép nối tiếp chuỗi Thyristor. Hệ thống sử dụng các điện trở công suất mắc song song để san đều điện áp tĩnh, kết hợp mạch dập RC hấp thụ xung điện áp quá độ và biến áp xung đa kênh kích mở đồng thời tất cả các van.

Thiết bị bù FC-TCR xử lý hiện tượng quá điện áp khi đường dây non tải bằng cơ chế nào? Khi đường dây 707,2 km non tải, dung kháng ký sinh lớn khiến điện áp cuối nguồn tăng vọt. Bộ điều khiển PID lập tức nhận diện sai lệch và hạ góc kích mở Thyristor về gần 90 độ, làm tăng dòng điện qua cuộn cảm TCR để tiêu thụ toàn bộ lượng công suất vô công dư thừa, ghìm điện áp về ngưỡng danh định 35kV an toàn.

Phương pháp xác định dung lượng bù kinh tế trong luận văn được thực hiện như thế nào? Tác giả thiết lập hàm chi phí vận hành tổng hợp gồm chi phí vốn đầu tư thiết bị, chi phí tổn thất điện năng trong bộ bù và tổn thất điện năng trên lưới sau bù. Lấy đạo hàm riêng của hàm chi phí theo biến số dung lượng bù và giải hệ phương trình vi phân cho phép xác định chính xác điểm đặt và công suất bù tối ưu tại các thanh cái.

Mô hình mô phỏng trên Matlab/Simulink đã kiểm chứng những thông số vận hành nào của lưới điện? Mô hình mô phỏng 4 đoạn đường dây tham số rải của lộ 371 E26.1 đã kiểm chứng độ sụt áp, dòng điện truyền tải, công suất tác dụng và công suất phản kháng ở các dải phụ tải từ 1 MW đến 5,4 MW. Kết quả khẳng định hệ thống điều khiển tự động duy trì ổn định hệ số công suất ở mức xấp xỉ 0,98.

Kết luận

Công trình nghiên cứu đã giải quyết trọn vẹn bài toán nâng cao chất lượng điện năng cho lưới điện phân phối thông qua các kết quả then chốt:

  • Thiết kế hoàn chỉnh cấu trúc hệ thống bù tĩnh công suất phản kháng trung thế FC-TCR cho phép điều chỉnh trơn và vô cấp công suất vô công trên lưới điện 35kV.
  • Xây dựng mạch điều khiển pha đứng tích hợp biến áp xung kích mở đồng thời chuỗi van Thyristor nối tiếp, bảo đảm an toàn phân áp trong môi trường trung áp.
  • Ứng dụng thành công thuật toán điều khiển phản hồi PID, tối ưu hóa tốc độ đáp ứng chuyển mạch và triệt tiêu sai số hệ số công suất xác lập.
  • Kiểm chứng mô hình mô phỏng lưới điện lộ 371 trạm E26.1 Bắc Kạn khẳng định nâng cao hệ số công suất lên trên 0,98 và ổn định độ lệch điện áp trong biên độ tiêu chuẩn.
  • Đóng góp giải pháp kỹ thuật có hiệu quả kinh tế vượt trội, tiết kiệm chi phí đầu tư so với việc xây dựng trạm biến áp 110kV mới hoặc lắp đặt máy biến áp tự ngẫu.

Lộ trình tiếp theo hướng tới việc hoàn thiện chế tạo mẫu thử nghiệm công nghiệp và tích hợp thử nghiệm thực địa trong thời gian từ 12 đến 24 tháng tới. Kính mời các nhà khoa học, chuyên gia vận hành hệ thống điện và các đơn vị quản lý lưới điện quan tâm kết nối để cùng hợp tác ứng dụng giải pháp thiết bị bù tĩnh thông minh vào thực tiễn hiện đại hóa lưới điện quốc gia.