Đặt vấn đề nghiên cứu Chƣơng 1: Tổng quan về điều kiện tự nhiên và hiện trạng mạng lƣới giao thông tỉnh Bình Thuận. Chƣơng 2: Những căn cứ lựa chọn kết cấu áo đƣờng trên địa bàn tỉnh Bình Thuận. Chƣơng 3: Tính toán, thiết kế và đề xuất kết áo đƣờng hợp lý trên địa bàn tỉnh Bình Thuận. Chƣơng 4: Kết luận và kiến nghị.
Học Viên: Bùi Khắc Sơn Lớp: XD Đường ôtô và Đường TP K19 Trường Đại học GTVT - Cơ sở II 12 Luận Văn Thạc Sĩ Kỹ Thuật CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ HIỆN TRẠNG MẠNG LƢỚI GIAO THÔNG TỈNH BÌNH THUẬN 1.1 Giới thiệu chung về các điều kiện tự nhiên tỉnh Bình Thuận 1.1 Vị trí địa lý Bình Thuận là tỉnh thuộc miền Duyên hải Nam Trung Bộ, nằm trong vùng kinh tế Đông Nam Bộ, có mối liên hệ chặt chẽ và chịu ảnh hƣởng tác động mạnh mẽ của địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam. Với tổng diện tích tự nhiên 7.830,47 Km2, dân số 1.429 ngƣời (mật độ 146 người/Km2, trên 50% độ tuổi có khả năng lao động) phân bố trên địa bàn 8 huyện, 1 thị xã và 1 thành phố (trong đó có 5 huyện miền núi, 1 huyện đảo) với 127 đơn vị xã, phƣờng, thị trấn. Tọa độ địa lý của tỉnh từ 10033’42” đến 11033’18” vĩ độ Bắc và từ 107023’41” đến 108052’42” kinh độ Đông. Ngoài khơi có đảo Phú Quý, cách thành phố Phan Thiết 120 Km về phía Đông Nam.
- Phía Đông Bắc và Bắc giáp tỉnh Ninh Thuận. - Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng. - Phía Tây giáp tỉnh Đồng Nai, Tây Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. - Phía Đông và Đông Nam giáp Biển Đông với đƣờng bờ biển dài 192 Km.
Với vị trí nằm cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 200 Km, cách thành phố Nha Trang 250 Km, có quốc lộ 1A, đƣờng sắt Thống nhất chạy qua; quốc lộ 28 nối liền thành phố Phan Thiết với các tỉnh Nam Tây Nguyên; quốc lộ 55 nối liền với trung tâm dịch vụ dầu khí và du lịch Vũng Tàu, tiếp giáp với biển Đông. đã tạo điều kiện thuận lợi cho tỉnh trong việc thúc đẩy, mở rộng mối quan hệ giao lƣu phát triển kinh tế chặt chẽ với các tỉnh Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và cả nƣớc. Sức hút của các thành phố và các trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị lớn nhƣ thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Đà Lạt, Nha Trang. tạo cho Bình Thuận có khả năng đẩy mạnh phát triển một nền sản xuất hàng hóa phong phú và đa dạng, tiếp thu nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo Phần lớn lãnh thổ có dạng đồi núi thấp và đồng bằng ven biển trải dài dọc bờ Học Viên: Bùi Khắc Sơn Lớp: XD Đường ôtô và Đường TP K19 Trường Đại học GTVT - Cơ sở II 13 Luận Văn Thạc Sĩ Kỹ Thuật biển theo hƣớng Đông Bắc - Tây Nam, với khoảng 160 Km đƣờng chim bay, nơi rộng nhất 95 Km, nơi hẹp nhất 32 Km.
Phía Bắc tiếp giáp các sƣờn núi cuối cùng của dãy Trƣờng Sơn, phía Nam có các dải đồi cát (động cát) chạy dài. Nhìn chung địa hình phân hóa phức tạp, sông suối thƣờng ngắn và dốc, bao gồm 4 dạng địa hình chính nhƣ sau: - Vùng đồi cát và cồn cát ven biển, chiếm 18,22% diện tích tự nhiên, chủ yếu là các dải đồi cát đỏ, trắng, vàng lƣợn sóng, phân bố dọc theo bờ biển từ huyện Tuy Phong đến huyện Hàm Tân, nơi rộng nhất là địa phận huyện Bắc Bình (dài khoảng 52 Km, rộng 20 Km). - Vùng đồng bằng phù sa, chiếm 9,43% diện tích tự nhiên, đƣợc tạo thành chủ yếu do phù sa của hệ thống sông, suối bồi đắp, gồm đồng bằng phù sa ven biển nhỏ hẹp ở các lƣu vực từ sông Lòng Sông đến sông Dinh: đồng bằng Tuy Phong (sông Lòng Sông), Phan Rí, sông Mao (Sông Lũy), Phan Thiết (Sông Quao, sông Cà Ty) và đồng bằng thung lũng sông La Ngà (Đức Linh, Tánh Linh). - Vùng núi thấp và trung bình, chiếm 40,70% diện tích tự nhiên, tập trung chủ yếu ở phía Bắc và Tây Bắc của tỉnh.
Đây là những dãy núi của khối Trƣờng Sơn chạy theo hƣớng Đông Bắc - Tây Nam từ phía Bắc huyện Bắc Bình đến Đông Bắc huyện Đức Linh, có độ dốc cao, địa hình phức tạp. - Vùng đồi gò, chiếm 31,65% diện tích tự nhiên, là dạng chuyển tiếp độ cao của vùng núi thấp, kéo dài theo hƣớng Đông Bắc - Tây Nam từ Tuy Phong đến Đức Linh. Với đặc điểm địa hình nói trên tạo điều kiện cho tỉnh phát triển một nền sản xuất nông lâm nghiệp phong phú và đa dạng. Tuy nhiên cũng gây trở ngại không nhỏ trong việc đầu tƣ khai hoang, cải tạo đồng ruộng, chi phí sản xuất và bố trí cơ sở hạ tầng.3 Đặc điểm khí hậu, thời tiết Bình Thuận nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhiều nắng, nhiều gió, không có mùa đông và khô hạn nhất cả nƣớc với 2 mùa rõ rệt: mùa Học Viên: Bùi Khắc Sơn Lớp: XD Đường ôtô và Đường TP K19 Trường Đại học GTVT - Cơ sở II 14 Luận Văn Thạc Sĩ Kỹ Thuật mƣa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
Nhiệt độ cao đều, trung bình trong năm là 26 - 270C, tổng tích ôn tƣơng đối lớn 6800 - 99000C/năm; độ ẩm trung bình 75 - 85%; lƣợng mƣa trung bình 800 - 2000 mm/năm, phân hóa theo mùa và khu vực theo hƣớng tăng dần về phía Nam. Có thể phân chia thành 4 khu vực địa lý nhƣ sau: - Vùng ven biển phía Đông, phạm vi bao gồm toàn huyện Tuy Phong, Đông Nam huyện Bắc Bình, huyện Hàm Thuận Bắc và Đông Bắc thành phố Phan Thiết. Đây là vùng chịu ảnh hƣởng chủ yếu của khí hậu ven biển Nam Trung Bộ, lƣợng mƣa ít, thiếu ẩm và khô hạn nhất tỉnh, đất đai kém dinh dƣỡng, thực vật nghèo nàn, có khoảng 70.000 ha đất cát ven biển khô hạn thiếu nƣớc. nhƣng là vùng dồi dào năng lƣợng bức xạ, chứa đựng tiềm năng lớn về một vùng chuyên canh cây trồng và vật nuôi có năng suất cao khi giải quyết đƣợc nguồn nƣớc tƣới.
- Vùng giữa theo hƣớng Tây Bắc - Đông Nam thuộc phạm vi phía Tây huyện Bắc Bình, Phan Thiết, Hàm Thuận Nam và Hàm Tân. Đây là vùng mƣa vừa, có lƣợng mƣa không ổn định, đất đai tƣơng đối khá, nếu có nƣớc tƣới có thể thích hợp để phát triển nhiều loại cây công nghiệp ngắn ngày hàng năm và lúa. - Vùng lƣu vực sông La Ngà gồm toàn bộ phần lƣu vực sông nằm trong ranh giới tỉnh gần nhƣ trọn vẹn 2 huyện Đức Linh và Tánh Linh. Đây là vùng ảnh hƣởng chủ yếu của khí hậu Đông Nam Bộ và Nam Tây Nguyên, có nền nhiệt độ thấp hơn, lƣợng mƣa cao, đất đai khá tốt, thực vật tự nhiên với thảm rừng xanh lá nhiệt đới lạnh ẩm và các hệ thống cây trồng nông nghiệp phát triển phong phú.
- Vùng khí hậu hải dƣơng gồm khu vực biển và đảo Phú Quý, khí hậu ôn hòa mát mẻ, thích hợp cho các loại cây trồng vật nuôi phát triển, đặc biệt là nuôi trồng thủy sản nhƣng diện tích không nhiều. Nhìn chung, đặc điểm điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển đa dạng các loại cây trồng nhiệt đới, đặc biệt là các loại cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày và cây thực phẩm có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên do lƣợng mƣa thấp, phân bố theo mùa, địa hình dốc, lƣợng bốc hơi cao, thiếu nƣớc nghiêm trọng vào mùa khô, nhiều nắng, gió cũng đã ảnh hƣởng rất lớn đến sản xuất và đời sống dân cƣ. Học Viên: Bùi Khắc Sơn Lớp: XD Đường ôtô và Đường TP K19 Trường Đại học GTVT - Cơ sở II 15 Luận Văn Thạc Sĩ Kỹ Thuật 1.4 Đặc điểm thuỷ văn, thuỷ triều và nguồn nƣớc Nhìn chung, hệ thống sông suối của Bình Thuận xuất phát từ phía Tây, nơi có các dãy núi của dải Trƣờng Sơn Nam, tiếp giáp với lƣu vực thƣợng sông Đồng Nai và đổ ra biển Đông theo hƣớng Bắc - Nam hoặc Tây Bắc - Đông Nam, trừ sông La Ngà đổ vào sông chính là sông Đồng Nai.
Các sông, suối đa số có lƣu vực hẹp, độ dốc lòng sông lớn, dòng chảy phụ thuộc vào lƣợng mƣa. Mô đuyn bình quân của các lƣu vực các sông, suối ven biển là 11,5 l/s/Km2 (thuộc loại rất ít nước). Dòng chảy kiệt bắt đầu vào tháng 12 đến tháng 5 năm sau, một phần do thảm thực vật bị tàn phá nặng nề nên khả năng điều tiết dòng chảy kém, một phần do lớp bồi tích lòng sông không sâu. Đây cũng là đặc điểm chung của lƣu vực các sông Bình Thuận, mà nhiều nơi trên một số triền sông không còn dòng chảy vào mùa khô nhƣ suối Đá Bạc, sông Mao, sông Phan.
Riêng khu vực phía Tây tỉnh thuộc lƣu vực sông La Ngà, do nằm trong khu vực mƣa nhiều nên có dòng chảy dồi dào hơn. Tuy vậy, vào mùa khô dòng chảy cũng rất nhỏ nhƣ tại Tà Pao có khi lƣu lƣợng cũng chỉ đạt 3,5 - 4 m3/s. Vì tính chất khô hạn, nguồn nƣớc chỉ tập trung vào mùa mƣa, đồng thời lƣợng nƣớc dự trữ từ ao hồ tự nhiên không đáng kể nên giải pháp cơ bản để giải quyết nhu cầu nƣớc cho sản xuất và sinh hoạt của dân cƣ là tập trung xây dựng các hồ đập chứa nƣớc, các hệ thống thủy lợi liên hoàn để có khả năng điều tiết lại dòng chảy trong vùng. Đồng thời xem xét khả năng tiếp nƣớc từ lƣu vực sông Đồng Nai sang các con sông khác nhƣ sông Lũy, sông Quao, sông Cà Ty.
Chế độ thuỷ triều của biển Bình Thuận gồm 2 dạng: Từ mũi Kê Gà về phía Bắc thuộc chế độ nhật triều không đều (độ cao triều cường không quá 160 cm), còn từ mũi Kê Gà về phía Nam mang tính chất bán nhật triều (độ cao triều cường nhỏ hơn 2 m). Chế độ thủy triều đã gây nhiễm mặn cho các vùng đất ven biển, cửa sông, tuy nhiên khá ổn định nên có thể lợi dụng để tàu thuyền ra vào các cửa sông, cửa biển. Chế độ dòng chảy ven biển trong những năm gần đây có sự đột biến gây xói lở nghiêm trọng bờ biển ở một số nơi thuộc các huyện Tuy Phong, Bắc Bình, Phan Thiết. Vì vậy cần có các giải pháp hữu hiệu (xây dựng hệ thống kè, đập chắn Học Viên: Bùi Khắc Sơn Lớp: XD Đường ôtô và Đường TP K19 Trường Đại học GTVT - Cơ sở II 16 Luận Văn Thạc Sĩ Kỹ Thuật sóng.) nhằm hạn chế tác động tiêu cực của hiện tƣợng này.