phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm 2 chƣơng, 4 tiết. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 SỰ TRUYỀN THỪA VÀ ĐẶC TRƢNG CƠ BẢN CỦA THIỀN PHÁI TÀO ĐỘNG Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM 1. Sự truyền thừa của Thiền phái Tào Động ở miền Bắc Việt Nam 1. Tình hình kinh tế, chính trị xã hội ở miền Bắc Việt Nam thời kỳ Thiền phái Tào Động truyền thừa Thiền phái Tào Động đƣợc truyền vào Việt Nam từ thế kỉ XVII.
Đây là thời kì nƣớc ta có nhiều biến động về chính trị, thể hiện rõ nhất ở sự tranh chấp giữa các thế lực phong kiến dẫn đến sự phân tách lãnh thổ thành hai miền: Đàng Ngoài và Đàng Trong. Mầm mống của sự chia cắt này bắt nguồn từ cuộc chiến Nam - Bắc triều trƣớc đó. Khi Mạc Đăng Dung cƣớp ngôi nhà Lê lập nên triều Mạc, nhiều quan lại cũ đã phản ứng kịch liệt. Đầu năm 1532, Nguyễn Kim mộ quân luyện tập và đƣa hậu duệ lƣu lạc của vua Lê Chiêu Tông lên làm vua.
Từ Thanh Hóa, một triều đình mới của nhà Lê hình thành, đƣợc gọi là Nam triều để phân biệt với Bắc triều của nhà Mạc. Sau khi Nguyễn Kim bị mƣu sát, ngƣời con rể cả của ông - Trịnh Kiểm đƣợc vua Lê đƣa lên thay thế. Để giữ vững quyền hành, Trịnh Kiểm đã loại trừ phe cánh của cha vợ, mà trƣớc hết là Nguyễn Uông. Tình thế này khiến Nguyễn Hoàng - con thứ của Nguyễn Kim vốn không thể tranh giành quyền lực với họ Trịnh, buộc phải tìm cách thoát khỏi mối đe dọa từ phủ chúa bằng cách xin vào trấn đất Thuận Hóa.
Đến đời sau của Nguyễn Hoàng là Nguyễn Phúc Nguyên đã tổ chức lại chính quyền, tách khỏi sự phụ thuộc vào nhà Trịnh. Năm 1627, lấy cớ Phúc Nguyên không nộp thuế, họ Trịnh đem quân vào đánh Thuận Hóa. Cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn bùng nổ và kéo dài suốt gần nửa thế kỉ. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong vòng 45 năm (từ năm 1627 đến năm 1672), hai họ Trịnh - Nguyễn đánh nhau bảy lần vào các năm 1627, 1630, 1643, 1648, 1655 - 1660, 1661 và 1672 với những trận chiến ác liệt, “trong đó có một lần, quân Nguyễn vƣợt sông Gianh tiến đánh quân Trịnh, chiếm vùng đất ở phía Nam sông Lam Nghệ An mấy năm rồi rút về.
Từ nam Nghệ An đến bắc Quảng Bình (địa phận sông Gianh và sông Nhật Lệ) trở thành chiến trƣờng” [31, tr. Sau bảy lần giao tranh dữ dội, chúa Trịnh không thể thực hiện đƣợc mục tiêu Nam tiến, diệt trừ thế lực họ Nguyễn, phải lui về phía Bắc sông Gianh, lấy dòng sông này làm giới tuyến, chia cắt Đàng Ngoài - Đàng Trong. Chiến tranh giữa các thế lực phong kiến không thể kết thúc nên đã hình thành xu thế phân tách hai vùng đất. Cuộc chiến Trịnh - Nguyễn đã làm hao tổn sức dân, triệt phá đồng ruộng, xóm làng.
Cuộc chiến tranh cũng dẫn đến việc chia đôi lãnh thổ nƣớc Đại Việt kéo dài suốt hơn 100 năm. Bên cạnh những cuộc Nam tiến nhằm đánh đổ họ Nguyễn nhƣng không thành, chính quyền Thăng Long còn phải đối phó với sự chống phá của nhà Mạc. Sau thất bại vào năm 1592, tàn dƣ nhà Mạc đã tập hợp lại thành thế lực cát cứ chống lại triều Lê - Trịnh: “Từ tháng 3 năm 1593, Mạc Kính Chỉ đã thất bại, nhƣng ở khắp nơi, con cháu, dƣ đảng nhà Mạc nổi dậy chiếm cứ các địa phƣơng xƣng bá… chống lại họ Trịnh quyết liệt… Mạc Kính Liễn lập Mạc Kính Cung ở châu Văn Lan làm ngƣời nối nghiệp họ Mạc, đặt niên hiệu là Càn Thống năm thứ nhất, nhiều ngƣời còn giữ hai lòng, chƣa quy phục hết, nghe Kính Cung lập nên rủ nhau theo” [21, tr. Trong nhiều năm từ 1593 đến 1623, các vùng nhƣ Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng vẫn thuộc quyền quản lý của các tôn thất Bắc triều nhƣ Mạc Kính Chỉ, Mạc Kính Cung, Mạc Kính Khoan, Mạc Kính Dụng, Mạc Kính Chƣơng.
Cùng lúc đó, chúa Bầu Vũ Đức Cung ở Tuyên Quang lại không theo nhà Lê nhƣ thời Nam - Bắc triều nữa mà từ năm 1594 quay sang liên kết với họ Mạc để 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chống triều đình Lê - Trịnh. Vì muốn duy trì thế Nam Bắc triều ở Việt Nam để có lợi cho Trung Quốc, nhà Thanh đã can thiệp để họ Mạc đƣợc cát cứ ở Cao Bằng. Năm 1667, chúa Trịnh sai quân tƣớng đánh nhà Mạc, chiếm lại Cao Bằng. Hai năm sau, theo lời khẩn cầu của nhà Mạc, nhà Thanh buộc chúa Trịnh phải trả lại Cao Bằng cho nhà Mạc.
Phải đến khi họ Mạc chống lại nhà Thanh nên mất sự ủng hộ của phong kiến phƣơng Bắc, chính quyền Lê - Trịnh mới dẹp đƣợc họ Mạc (1677). Trong hai thế kỉ XVI - XVII ở Việt Nam có nhiều biến cố chính trị với sự tranh chấp quyền lực giữa các thế lực phong kiến. “Cơn địa chấn” dữ dội này cho thấy sự khủng hoảng, suy yếu và đổ gãy của chế độ phong kiến tập quyền cao độ mà nhà Lê sơ, đỉnh cao là Lê Thánh Tông dày công xây dựng. Sau khi cơ bản dẹp đƣợc các lực lƣợng đối lập, chủ yếu là tàn dƣ nhà Mạc, họ Trịnh ép vua Lê phong vƣơng tƣớc cho mình và từ thời Trịnh Tùng đặt lệ chọn thế tử để nối nghiệp ngang với nhà vua.
Tính từ Trịnh Kiểm cho tới đời cuối cùng Trịnh Sâm, họ Trịnh đã tạo đƣợc tới 9 đời chúa có thực quyền, chấp chính suốt từ năm 1545 tới tận năm 1782. Chúa Trịnh tƣớc hết thực quyền của vua Lê, quy định chặt chẽ chế độ bổng lộc của nhà vua (chỉ đƣợc cấp 1000 xã làm lộc thƣờng tiến, 500 lính túc vệ, 7 thớt voi, 20 thuyền rồng [31, 346]. Quyền lực của phủ chúa lớn tới mức có thể chọn ngƣời kế vị ngai vàng. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục đã chép: “Duy Thận, con thứ mƣời một của Dụ Tông và là em Thuần Tông.
Lúc ấy Duy Thận 17 tuổi, kém Duy Diêu, con cả nhà vua (hoàng tử trƣởng) 2 tuổi. Nhƣng Trịnh Giang e rằng Duy Diêu tuổi đã trƣởng thành, và nhận thấy Duy Thận là cháu ngoại bà Thái phi Vũ Thị (vợ Trịnh Cƣơng), trƣớc kia vẫn nuôi nấng ở trong phủ, thân cận yêu thƣơng có phần dễ kiềm chế. Giang mới nói thác ra rằng diện mạo Duy Thận giống nhƣ tiên đế, nên 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyết ý lập làm vua. Bầy tôi không ai dám nói gì cả.
Ngày Giáp Ngọ, làm lễ cáo Thái Miếu, ngày Bính Thân lên ngôi vua (tức Ý Tông)…” [29, tr. Trong khoảng thời gian hơn hai trăm năm song trùng tồn tại, các chúa Trịnh đã vô hiệu hóa vai trò của các vua Lê. Vua Lê còn bóng hào quang quá khứ và ít nhiều còn uy tín trong dân chúng nhƣng đã mất hết sinh khí, phải dựa hẳn vào thế lực quân sự của họ Trịnh. Về thực chất, phủ chúa thay thế địa vị thực tế của vua Lê, một triều đại đã suy yếu không còn đủ năng lực nắm giữ vị trí trung tâm chính trị đất nƣớc đƣợc nữa.
“Sự hiện diện của chính quyền Trịnh bên cạnh triều đình vua Lê là một hiện tượng dị biệt trong lịch sử Việt Nam” nơi truyền thống chính trị quân chủ tập quyền luôn giữ vai trò chủ đạo. Cơ chế chính trị kiểu “chính quyền kép” hay “song trùng lãnh đạo” này [17, tr. 62-74] là bằng chứng về sự suy thoái của thể chế. Thế “lƣỡng đầu chế” với sự hiện diện của chính quyền Trịnh bên cạnh triều đình vua Lê đã tạo nên những tác động lớn lao về tƣ tƣởng, tâm lý của các tầng lớp nhân dân, khiến niềm tin vào thể chế chính trị phong kiến tập quyền cao độ trƣớc đó bị đổ vỡ.
Kinh tế thời kỳ này có nhiều bƣớc phát triển, nhất là kinh tế công thƣơng nghiệp cũng nhƣ giao thƣơng, đặc biệt ở Đàng Ngoài. Từ đầu thế kỉ XVI, chính sách ruộng đất quân điền thời Lê sơ dần bị phá vỡ, diện tích ruộng đất tƣ hữu ngày càng tăng lên. Chiến tranh triền miên làm nhà nƣớc trung ƣơng suy yếu, không thể kiểm soát tình hình ở nông thôn, nạn chiếm ruộng đất công vì thế diễn ra phổ biến, ruộng thế nghiệp của các công thần trƣớc đây lâu ngày cũng bị biến thành ruộng đất tƣ. Bên cạnh đó, dân khai hoang ruộng đất không báo với chính quyền cũng là một phần đáng kể tăng diện tích ruộng đất tƣ hữu.
Trƣớc thực tế không thể cƣỡng lại đƣợc đó, Nhà nƣớc buộc phải từng bƣớc chấp nhận tình trạng đã rồi bằng việc công nhận hình thức ruộng Chiếm xạ - ruộng đất hoang của những ngƣời khai phá 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com truyền lại cho con cháu, ruộng Thông cáo - ruộng đất công bị bỏ hoang đƣợc canh tác lại và ruộng Miễn hoàn (ruộng không phải trả lại). Cuối thế kỉ XVII, đầu thế kỉ XVIII, chúa Trịnh cho đo đạc lại ruộng đất và gộp mọi loại ruộng đất dƣới hai chế độ sở hữu: ruộng công và ruộng tƣ. Ruộng tƣ đƣợc đƣa vào biểu thuế chính thức nhƣ sự thừa nhận về mặt pháp lí sự tồn tại của loại hình sở hữu này. Chế độ tƣ hữu ruộng đất kích thích sự phát triển của nông nghiệp, tuy nhiên cũng làm nảy sinh những mâu thuẫn không thể giải quyết.
Quản lí lỏng lẻo của chính quyền trung ƣơng khiến bọn cƣờng hào gian hoạt hoành hành, tự đặt các mức tô cao hơn nhiều so với biểu thuế của nhà nƣớc. Bên cạnh đó, sự tích tụ ruộng đất khiến nông dân không có ruộng đất cày cấy, phải lĩnh canh ruộng đất của địa chủ và bị bóc lột. Hiện tƣợng dân nghèo phiêu bạt ngày càng phổ biến. Không những thế, quan chức địa phƣơng lơi lỏng trị thủy, làm việc qua loa nhƣng lại lợi dụng chức trách tham nhũng, sách nhiễu nhân dân.
Tai họa do vỡ đê gây lũ lụt khiến cuộc sống của ngƣời dân càng bần cùng. Ở các thế kỉ từ XVI - XVIII, trong khi nƣớc ta bị chia tách thành hai miền thì thế giới có nhiều biến động mới. Những cuộc phát kiến về địa lý của phƣơng Tây đã mở đƣờng cho sự giao lƣu buôn bán với các nƣớc phƣơng Đông, trong đó có Đại Việt. Hoạt động của các thuyền buôn Trung Quốc, Nhật Bản cũng ngày càng nhộn nhịp.
Sự giao thƣơng buôn bán với các nƣớc trên thế giới cùng với tác động của nông nghiệp đã tạo điều kiện cho nền kinh tế công thƣơng nghiệp nƣớc ta phát triển. Ở Đàng Ngoài, chúa Trịnh cho lập nhiều xƣởng lớn chuyên đúc đồng, đóng thuyền các loại, làm đồ trang sức, đúc tiền.