Chương 1 TỎNG QUAN 1.1Wài nét về chi Drynaria Chi Drynaria có từ 15 đến 19 loài, sống và phân bố ở Châu Phi, Chau A đến Tây Bắc Châu Úc, trong đó có phổ biến và nhiều nhất ở Trung Quốc, được T. Schneider phân loại thành các loài tiêu biểu sau [4]. + Drynaria bonii + Drynaria laurentii + Drynaria descensa + Drynaria parishii + Drynaria involuta + Drynaria propinqua + Drynaria spasisora + Drynaria pleuridioides + Drynaria quercifolia + Drynaria rigidula + Drynaria delavayi + Drynaria volkensii + Dryaria mollis + Drynaria willdenowii + Drynaria sinica A + Drynaria fortune + Drynaria sinica B 1.2 Mô ta cây Tắc kè đá[5] Bộ: dương xỉ (Polypodiales). Tén khoa hoc: Drynaria bonii H.
Tên gọi khác: co tạng tó, bố cốt toái bon, rang đuôi phụng bon, thu mun 6 ra. Cây Tắc kè đá sống trên các hốc đá, trên đám rêu hay trên các cây lớn (cây đa, cây si,. Cây sống lâu năm, có thân rễ dạng mam, mong nước, phủ nhiêu vay mau vàng bóng. Có 2 loại lá: loại lá bất thụ là lá không cuống, màu nâu, hình trứng, dài 5 - 8 cm, rộng 3 - 6 cm, phía cuống hình tim có gân nổi rõ; loại lá hữu thụ mau xanh nhan, đơn, xẻ thùy lông chim, dai 25 - 40 cm, cuống la có dia, có thùy thuôn, tu ở đầu.
Các túi bào tử xếp hai hàng giữa gân phụ mặt dưới lá; bào tử vàng nhạt, hình trải xoan (Hình 2. Huỳnh Thị Mỹ Nương Hình 1.1 Cây Tac kè đá Trên thế giới cây thường gặp ở Trung Quốc, Lảo,. Ở Việt Nam cây thường mọc ở các vùng rừng Sơn La, Cao Băng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Đồng Nai, Lâm Đồng, An Giang. Thân rễ cây tắc kè đá được thu hái quanh năm, nhưng thường từ tháng 4 đến tháng 9.
Thân rễ sau khi hdi về được cạo bỏ sạch lông, thái nhỏ phơi khô, đốt nhẹ cho cháy hết lông nhỏ phủ trên thân rễ, khi dùng ủ thân rễ cho mém, rồi tam mật hoặc rượu sao vàng. Có thê cho vào nước đường nâu chín và phơi khô dùng dân. Huỳnh Thị Mỹ Nương 1.4 Thành phần hóa học 1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước Ở ngoài nước, chưa có công trình nào nghiên cứu về cây Drynaria bonii, chúng tôi giới thiệu thành phan hóa học một số loài thuộc chỉ Drynaria đã được nghiên cứu. *Drynaria propinqua Năm 1992, Liu Sonqing va cộng sự tại dai hoc duoc Trung Quéc lan dau tién đã phân lập được một hop chat flavanol glucoside mới là (-)-epiafzelechin -3-O-f- D-allopyranoside (1) và các hợp chat acid 4-Ó-Ø-D-allopyranosyl caffeic (2); Ø- SIstosterol-3--/-]-glucopyranoside (3) từ toàn cây Drynaria propinqua |6.
Ramesh va cộng sự đã phân lập từ rễ khô cây Drynaria quercifolia được các hợp chất friedelin (4); epifriedelinol (5); Ø-amyrin (6);- sitosterol (7); /Ø-sitosterol-3-@-6-I-glucopyranoside (3) và naringin (8) [8]. và cộng sự đã phân lập được hai hợp chất acetyllupeol (9) và 3,4-dihydroxybenzoic acid (10) từ cây Drynaria quercifolia [9]. * Drynaria fortunei Năm 2003, Chang E. và cộng sự đã phân lập từ dich chiết MeOH của thân rễ Drynaria fortunei (Kunze ex Mett) J.Sm 8 hợp chất flavonoid:(-)-epiafzelechin (11); (-)-epiafzelechin-3-O-f-D-allopyranoside (12);(-)-epiafzelechin-3-O-(6"-O-acetyl)-f- D-allopyranoside (13); 46-carboxymethyl-(-)-epiafzelechin methyl ester (14); 4/- carboxymethyl-(-)-epiafzelechin sodium (15); naringin (8); (-)-epiafzelechin-(46—8)-4f- carboxylmethylepiafzelechin methyl ester (16) và _ (-)-epiafzelechin-(46—8, 2Ø—>O—>7)-epiafzelechin-(4/—>§)-epiafzelechin (17).
Trong đó có một số flavonoid có hoạt tính phytoestrogen được ứng dụng điều trị chứng loãng xương ở phụ nữ mãn kinh [10]. và cộng sự khảo sát dịch chiết EtOH 75° cây Drynaria fortunei (Kunze ex Mett) J. Sm, đã phân lập được 3 hợp chat (-)-epiafzelechin-3-O- f-D-allopyranoside (12); (-)-epiafzelechin (11) vaf-sitosterol (7) [11]. Huynh Thi My Nuong 5 Nam 2006, Li F.
va cOng su nhan thay dich chiét ethanol, ethyl acetate va buthanol của thân rễ Drynaria fortunei có hoạt tính tạo xương. Từ phân đoạn cao chiết buthanol dựa theo thử nghiệm hoạt tính 2 hợp chất có tính tạo xương đã được phan lập là naringin (8) và neoeriocitrin (18) [12]. Năm 2008, Xin Luan Wang và các cộng sự đã phân lập được 11 hợp chat flavonoid từ Drynaria fortunei (Kunze ex Mett) J.Sm, trong đó có 2 hợp chat mới là kaempferol-3-@-/Ø-I)-ølucopyranoside-7-@-a-L-arabinofuranoside (19) và (2S)- 5,7,3',5'-tetrahydroxyflavanon-7--neohesperidoside (20), cùng 9 hợp chat đã biết trong đó có 3 flavanon là (2)-narinngmm (8); (2S)-narigenin-7-O-£-D-glucoside (21); (25)-5,7,3',5'-tetrahydroxyflavanon-7-@-Ø-D-gluco-pyranoside (22), một flavon là luteolin-7-@-/6-]D-neohesperidoside (23), một flavonol là kaempferol-3-O-a-L- rhamnosyl-7-@-Ø-]D-glucostide (24), hai chromon là 5,7-dihydroxychromon-7-O-f- D-glucopyranoside (25) va(4H-1-benzopyran-4-on,7-[[2-O-(6-deoxy-a-L- mannopyranosyl)-/-D-glucopyranosyl oxy]-5-hydroxy (26), một maltol glucoside (27) va (-)-epicatechin (28) [13]. Nam 2010, Liang Yong hong và cộng sự đã phân lập 6 triterpenoid từ cao ete dau hỏa: chiranton (29), dryocrassylacetate (30), fern-9(11)-en (31), hop-22(29)-en (32), isoglaucanon (33),dryocrassol (34), trong do chiraton là triterpenoid mới (14) Nam 2010, Xin Luan Wang va cộng sự đã cô lập được 8 hop chat từ than rễ cua cay Drynaria fortunei:narigenin (35), kushennol F (36), sphoraflavanon G (37), kurarmon (38), leachianon A (39), 8-prenylkaempferol (40), kaempferol (41), xanthogalenol (42) cùng 1 phenylpropanoide (acide12-O-caffeoyldodecanoic) (43) va 1 chalcon (3'-lavandulyl-4-methoxyl-2,2',4',6'-tetrahydroxylchalcon) (44) mới [15].
Năm 2010, Liang Yong hong, Ye Min và cộng sự từ than rễ của cây Drynaria fortunei đã cô lập được 9 hợp chat phenol: acid 4,4'-dihydroxy-3,3' -imino-di- benzoic (45), acid protocatechuic (10), acid gallic (46), acid p-hydroxybenzoic (47), acid (£)-caffeic (48), ethyl/rans-3,4-dihydroxycInnamat (49), caffeic acid 4-O-f-D- glucopyranoside (50), acid p-coumaric-4-O-6-D-glucopyranoside (52), 23(S)-120- Huynh Thi My Nuong 6 caffeoyllaurat glyceryl (51). Nam 2011, Wang Xin Luan va cộng sự cũng đã cô lập năm flavonoid: narigenin (35), kurarinon (38), kushennol F (36), xanthogalenol (42) và sophoraflavanon G (37) [17]. OH O HO 0 ST AllO ⁄ OH OAII HO OH 1 2 (-)-Epiatfzelechin-3-O -B-D-allopyranoside Acid 4-Ó-Ø-D-allopyranosyl caffeic AllO 3 f-Sitosterol-3-O-f-D-glucopyranoside Friedelin Huỳnh Thị Mỹ Nương AcO 7 9 f-Sitosterol Acetyllupeol HO HO HO wee O O HO OH OH 8 Naringin Huynh Thi My Nuong COOH OH HO OS OH OH “QH OH 11 10 (-)-Epiafzelechin 3,4-Dihydroxybenzoic acid OH OH HO. O a HO O ớ % ) HO OH ““OAII 0 lạ OH OH OH AcO 12 13 (-)-Epiafzelechin-3 O-6-D-allopyranoside (-)-Epiafzelechin-3-O-(6"-O- -acetyl)--D-allopyranoside OH HO 0 ios OH HO 0 ior “MOH "OH OH CH,COOCH; OH CHạCOONa 14 15 46-Carboxymethyl(-)-epiafzelechin 46-Carboxymethyl(-)-epiafzelechin methyl ester sodium 11UY1LI 1111 iviy Inuong HO OH OH O HO HO ioe Ơ le) OH ON A LY 2ee OH , OH "OH OH CHạCOOCHạ 8 16 Naringin (-)-Epiafzelechin (46—8)-4f-carboxymethylepiafzelechin methyl ester (-)-Epiafzelechin-(4B—8, 26—O-—-7)-epiafzelechin-(46—8)-epiafzelechin HO O HO [> OH ° ° Ss HO H On,„ X O Olme: OH HO “QH Gœm:H 18 Neoeriocitrin Huynh Thi My Nuong 10 19 20 Kaempferol-3--6-D-øglucopyranoside = (2S)-5,7,3',5'-Tetrahydroxyflavanon -7-O-a-L-arabino furanoside -7-neohesperide OH OH GlcO O ioc" OH X X y OH OH O OH O 21 22 (2S)-5,7,3',5'-Tetrahydroxyflavanon (2S)-Narigenin-7-0-f-D-glucoside -7-o--D-glucopyranoside OH G |CcO O (X|ì OH ORha OH O 23 24 Kaempferol-3-O-a-L-rhamnosyl Luteolin-70-/-D-neohesperidoside mom P-D-neohesp -7-O-f-D-glucoside Huynh Thi My Nuong II GlcO O GlcO O OH O OH O 25 26 (4H-1-benzopyran-4-on-7-[2-O-(6- 5,7-Dihydroxychromon deoxy-a-L-mannopyranosyl)-Ø-D- -7-O-B-D-glucopyranoside -glucopyranosyl]oxy]-5-hydroxy OH 8 OH | | HO O ow le Om, “OH OH 27 28 Maltol glucoside (-)-Epicatechin 29 30 Chiraton Dryocrassyl acetate Huynh Thi My Nuong 31 32 Fern-9(11)-en Hop-22(29)-en OH seen’ H H CL Y š O O ror 36 37 Kushennol F Sophoraflavanon G Huynh Thi My Nuong 35 38 Kurarinon Leachianon A 8-Prenylkaempferol OCH3 O 41 42 Kaempferol Xanthogalenol O Ø********YOH O HO OH 43 Acid 12-O-caffeoyldodecanoic Huynh Thi My Nuong 14 HOOC COOH ⁄ O S rom HO Zr C} | OH OH HO 44 45 Acid 4,4’-dihydroxy-3, 3’ 3'-la I] vandulyl-4 lyl-4-me thoxyl-2 -meth ,2',4',6 oxyl-2,2', 4',6 wg: , -imin o-di-benzoic -tetrah ydroxylchalcon COOH COOH HO OH OH OH 46 47 Acid gallic Acidp-hydroxybenzoic COOH O a ° ``®⁄ *oEt H HO OH OH 48 49 Acid (£)-caffeic Ethyl trans-3 ,4-dihydroxycinnamat Huynh Thi My Nuong HO ~~ *on “~~ *on GlcO GlcO 50 51 Acid caffeic-4-O-£-D-glucopyranoside Acid p-coumaric-4-O-f-D-glucopyranoside O QH HO ° OH 52 23(S)-12-O-caffeoyllauratgl yceryl 1.2 Tinh hình nghiên cứu trong nước[1§| Năm 2013, Phạm Thị Nhật Trinh và cộng sự đã cô lập được 16 hợp chất từ cây Drynaria ƒorfunei: bavachinin (53), bakuchiol (54), citrostadienyl acetate (55), citrostadienol (56), myristin (57), isobavachalcon (58), bisdemetoxycurcumin (59), curcumin (60), demetoxycurcumin (61), acideprotocatechuic (10), cycloeucalenol (62), cycloartanol (63), emodin (64), liquiritin (65), (-)-epicatechin (28) va một chat mới là fortunamid (66).
Cùng năm 2013, Phạm Thị Nhật Trinh và cộng sự đã cô lập được 15 hợp chất từ cây Drynaria bonilàchrysophanolÐ (67), a-tocopherol (68),24- methylencycloartan-3/-ol (69), triphyllol (70), drynafuran (71) là chất mới, nobiletin (72), 5-hydroxymetylfurfural (73), acid protocatechulc (10), protocatechuic aldehyd (74), isoliquiritigenin (75), rutin (76), nicotiflorin (77), linocaffem (50), ethyl 6-D-fructopyranoside (78). Huynh Thi My Nuong 16 HO bavachinin ° 55 i 56 Citrostadienyl acetate Citrostadienol O 15 3 5 7 9 11 13 „ 9! ' ' 13 5! 11 3! io 4 3" 5" Hà ọn 11" 13" " H2C—O 17 1" 14 57 Myristin O~ T OH HO C) H ao OH O HO OH 58 59 Isobavachalcon Bisdemetoxycurcumin Huynh Thi My Nuong 17 oo O WON | Z S H3CO HO § OH HO § ` OH 61 Demetoxycurcumin na ueẻ HO Cycloeucalenol O OH to | H3C See HO. 7 7-0 6' OH O OH 3 10 5 O 65 Liquiritin 9 NH, 66 Fortunamid 68 œ-Tocopherol 69 70 24-metylencycloartan-3/-ol Triphyllol 1 O | CHO 71 Drynafuran 72 Nobiletin CHO \ OH HO OH o () OCH;CH; OH HO HOH;C OH 73 74 78 Protocatechuic aldehyd 5-hydroxymetyl furfural Ethyl-6-D-fructopyranoside Huynh Thi My Nuong 19 lệ Isoliquiritigenin Rut fun OH H H H O aes OH OH OTT H OH Nicotiflorin b OH OH 1.5 Những nghiên cứu về dược tính 1.1 Theo y học cỗ truyền[ 19-21] Thân rễ tắc kè đá có vị hoi dang, tính 4m, được sử dụng nhiều trong y học cô truyền dé làm thuốc chữa phong thấp dau lưng, thận hư, thần kinh suy nhược, đau minh, tụ mau, bong gân, ù tai. ^ Các bài thuốc có tắc kè đá - Chữa bị thương, gân cốt bị tổn thương, chảy máu, đau nhức và chân răng sưng viêm: dùng tắc kè đá 15 gam, lá sen tươi, lá trắc bá tươi, sinh địa dều 10 gam, sac uông.
Huynh Thi My Nuong 20 - Chữa đau lưng, mỏi gối do thận hư yếu: dùng tắc kè đá 16 gam, cau tích 20 gam, rễ gối hac 12 gam, củ mai 20 gam, rễ cỏ xước 12 gam, dây đau xương 12 gam, thỏ ty tử 12 gam, tỳ giải 16 gam, đỗ trọng 16 gam, sắc uống.2 Theo y học hiện dai Phạm Xuân Sinh, Nguyễn Trần Giáng Hương - Đại học Dược Hà Nội đã nghiên cứu thử nghiệm tác dụng chống viêm cấp và chống viêm mãn tính của cao lỏng bổ cốt toái (tỉ lệ 1:1,1 ml = 1 g được liệu, dung môi dùng làm chứng là nước muối sinh lý 0.9%) trên chuột trang. Kết quả cho thấy cao lỏng bồ cốt toái có tác dụng chống viêm cấp ở liều dùng trung bình 4 g/kg tương đương với các thuốc nam khác (hoe hoa tán, trinh nữ, phân tam,.) đã nghiên cứu, làm giảm số lượng bach cầu trong dịch rỉ viêm (49,79% so với chứng), tác dụng này tương đương với thuốc làm đối chứng aspirin (67,99% với liều dùng là 0,05 g/kg). Đối với tác dụng chống viêm mãn tính, kết quả cho thấy cao lỏng bố cốt toái với liều dùng 4 g/kg có tác dụng ức chế sự phát triển của u hạt, làm giảm 55,65% trọng lượng của u hạt so với chứng [22]. Rabie đã nghiên cứu tác động của dịch chiết thô từ thân rễ cây Drynaria fortunei (Kunze ex Mett) J.