MỞ ĐẦU Cu li là loài được Sách đỏ Việt Nam và thế giới xếp vào loài thú có nguy cơ tuyệt chủng trong tương lai gần (V). Tuy nghị định 32 của chính phủ về quản lý thực vật rừng - động vật rừng nguy cấp, quý hiếm xếp culi trong nhóm 1B, nhưng điều đó không bảo vệ được loài này thoát khỏi nguy cơ tuyệt chủng. Cu li thuộc danh sách các loài cần được bảo vệ của ngành lâm nghiệp (Phụ lục IB Nghị định 48/2002/NĐ-CP ngày 22/4/2002 của chính phủ) [1]. Theo sách đỏ Việt Nam, Cu li thuộc bộ linh trưởng, sống trong nhiều sinh cảnh rừng khác nhau, kiếm ăn ở những rừng thưa quang thoáng, trên các gốc cây, bụi rậm, dây leo, bụi tre và sống đơn độc, lặng lẽ.
Năm 2000, cùng Sách đỏ Việt Nam, Tổ chứ quốc tế về bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên (IUCN) đã xếp culi vào độ nguy cấp bậc V (có thể bị đe dọa tuyệt chủng) [1]. Vườn Quốc Gia (VQG) Kon Ka Kinh, tỉnh Gia Lai là một trong những khu vực có mức độ đa dạng sinh học cao, với nhiều hệ sinh thái đặc trưng, độc đáo. Vườn được công nhận là Vườn di sản Asian, một trong các khu vực được ưu tiên bảo vệ của Việt Nam. Đặc biệt VQG Kon Ka Kinh có sự đa dạng về các loài thú linh trưởng, trong đó có các loài quý hiếm, nguy cấp như Vooc Chà Vá Chân Xám (Pygathix cinerea), Vượn đen má hung (Nomascus annamesis), Cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus), khỉ mặt đỏ (Macaca arctoides), khỉ đuôi lợn (macaca Leonia) [8] [9].
Hiện tại chưa có những nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm sinh học, tập tính của loài cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus), tại VQG Kon Ka Kinh, tạo cơ sở cho các biện pháp kĩ thuật bảo tồn loài này.Đặc biệt trước những tác động của con người như khai thác lâm sản, chặt phá rừng làm nương rẫy đã và đang làm ảnh hưởng đến độ che phủ rừng, thu hẹp nơi sống, và kiếm ăn của nhiều loài động vật hoang dã trong đó có Cu li. Mặt khác tình trạng săn bắt, buôn bán chúng như loài động vật cảnh cũng là mối đe dọa đến sự tồn tại của chúng ngoài tự nhiên. 1 Nguyễn Kim Thông – 14CTM Đứng trước thực tế đó, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số tập tính về loài culi nhỏ (Nycticebus pymaeus) tại Vườn quốc gia Kon Ka Kinh – tỉnh Gia Lai” nhằm nghiên cứu vùng sống và một số tập tính của loài, tạo cơ sở dữ liệu khoa học cho công tác bảo tồn loài. Với đề tài này, chúng tôi thực hiện các nội dung sau: - Nghiên cứu vùng sống của Culi tại VQG Kon Ka Kinh.
- Nghiên cứu một số tập tính của loài Culi tại VQG Kon Ka Kinh. 2 Nguyễn Kim Thông – 14CTM CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu Culi trên thế giới Khảo sát và điều tra sơ bộ về loài Cu-li lớn phía bắc trên 7 khu bảo tồn ở Cam- pu-chia (T.Nalder), kết hợp với thông tin có được của liên minh động vật hoang dã vào các mùa từ năm 2002 – 2009 đã ghi nhận các Cu li lớn ở phía bắc được quan sát thấy ở rừng khô và rừng nửa rụng lá ở Khu bảo tồn (KBT) động vật hoang dã Samkos và VQG Phnom Kulen.
Trong 39 giờ quan sát đã ghi nhận được 18 cá thể. Từ đó đưa ra được vùng phân bố cũng như đề xuất giải pháp bảo tồn loài Cu li lớn tại Cam-pu-chia. Bên cạnh đó, trước, trong và sau năm 1993, Cam-pu-chia chịu nhiều tổn thất của chiến tranh để lại. Điều này đã góp phần làm cho số lượng động vật hoang dã nói chung và Cu li nói riêng tại đây giảm mạnh qua những hoạt động chiến tranh trước và trong năm 1993, hoạt động khai thác gỗ, phá rừng, xây dựng đất nước sau 1993 (Baird, 1993) [11].
Một nghiên cứu khác của Ulrike Streicher (2004) đã chỉ ra những hành vi cơ bản của Cu li nhỏ tại Trung tâm cứu hộ linh trưởng nguy cấp VQG Cúc Phương khi chúng mới được đưa về. Nghiên cứu này đã chỉ ra được những thay đổi về màu lông, cân nặng, thời gian ăn uống qua những mùa trong năm của Cu li nhỏ. Tuy nhiên, kết quả của nghiên cứu này chỉ dừng lại ở những hành vi cơ bản của Cu li khi mới được đưa về trung tâm, chưa đi sâu vào những tập tính cũng như chưa chỉ ra được những điểm giống và khác nhau của Cu li khi ở khu nuôi nhốt và ngoài tự nhiên. Bên cạnh đó, phạm vi hoạt động và lãnh thổ của Cu li cũng là một trong những vấn đề đáng để nghiên cứu [30].
Năm 2002, Sindhu Radhakrishna đã quan sát và theo dõi Cu li tại khu vực phía nam Ấn Độ trong suốt 21 tháng, kết quả đã chỉ ra được phạm vi lãnh thổ của Cu li thay đổi theo từng thời điểm, từ lúc nhỏ, lúc cai sửa, đến lúc bán trưởng thành và trưởng thành. Việc quan sát và theo dõi 16 cá thể trong 2261 giờ đã chứng minh được lãnh thổ của Cu li được chia làm 2 phần, phần lõi là nơi ngủ nghỉ của chúng và phần hoạt động 3 Nguyễn Kim Thông – 14CTM là phần bên ngoài tiếp giáp với vùng lõi. Phạm vi lãnh thổ của từng cá thể có thể chồng lên nhau, nhưng không chồng lên phần lõi. Điều này có nghĩa các cá thể Cu li có thể sử dụng chung 1 lãnh thổ để kiếm ăn, trao đổi các tập tính xã hội tuy nhiên chúng không bao giờ xâm phạm đến vùng lõi của nhau.
Ngoài ra, Sindhu Radhakrishna cũng đã chỉ ra được lãnh thổ trung bình của cá thể Cu li đực có thể lên đến 1ha, trong khi cá thể cái có phạm vi lãnh thổ nhỏ hơn. Sự chồng chéo lên lãnh thổ của nhau cũng có sự thay đổi giữa đực và cái [28]. Tình hình nghiên cứu Culi tại Việt Nam Năm 1907, Bonhote lần đầu tiên sưu tầm được ở Nha Trang loài Culi nhỏ. Ông đã mô tả và công bố nó trên tạp chí của hội động vật học London với tên khoa học là Nycticebus pygmaeus, điều này đã góp phần hình thành các nghiên cứu chuyên sâu hơn về loài này [12].
Đơn cử là nghiên cứu về sinh thái và đề xuất bảo tồn loài Cu li nhỏ tại Việt Nam của Streicher năm 2004 đã chỉ ra được các tập tính cũng như luật và hành vi xử phạt đối với việc buôn bán, săn bắt loài Cu li ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam [30]. Tuy nhiên, việc nghiên cứu tập tính của Cu li nhỏ vào lúc đó còn nhiều hạn chế. Vì thế, năm 2009, Ulrike Stricher đã tiếp tục nghiên cứu và chỉ ra khẩu phần ăn cũng như tập tính chuyên sâu hơn về loài Cu li nhỏ tại Việt Nam. Kết quả đã ghi nhận trên các cá thể đực trưởng thành, đây là những cá thể được thu giữ từ các vụ buôn bán động vật hoang dã trái phép, được nuôi dưỡng tại Trung tâm cứu hộ linh trưởng nguy cấp VQG Cúc Phương.
Sau đó, Cu li được gắn thiết bị Radio và tái thả vào VQG Cúc Phương. Một nghiên cứu khác về “Bảo vệ động vật có vú tại VQG Cát Tiên (Polet, Gert, 2004)” đã đưa ra các giải pháp bảo tồn loài tại VQG Cát tiên, mở ra một hướng mới trong công tác bảo tồn động vật có vú tại Việt Nam, hay nghiên cứu tập tính Vooc Chà vá chân xám (Pygathrix cinerea) tại Gia Lai, Việt Nam (Nguyễn Thị Tịnh, 2010) đã chỉ ra được các đặc điểm về sinh thái dưỡng, cấu trúc bầy đàn, cấu trúc vùng sống cũng như các mối đe dọa, từ đó đề xuất giải pháp và bảo tồn hiệu quả loài Vooc Chà Vá 4 Nguyễn Kim Thông – 14CTM Chân Xám. Bên cạnh đó, nghiên cứu này còn cho cái nhìn tổng quan hơn về tập tính giữa Cu li và Chà Vá Chân Xám [17] [27]. Ngoài ra, trong một chuyến khảo sát ở tỉnh Hòa Bình ngày 26/01/1957, GS.
Đào Văn Tiến đã thu được 1 mẫu Culi có những đặc điểm tương đối khác với hai loài đã được biết là Culi lớn và Culi nhỏ. Ông đã nghiên cứu và so sánh sự khác biệt về các đặc điểm sọ, màu long và kích thước cơ thể của mẫu này với các mẫu Cui đã được nghiên cứu từ trước đó. Dựa vào những khác biệt cụ thể các răng hàm, số đo cơ thể ở dạng trung gian và màu lông ánh bạc, ông đưa ra quan điểm cho rằng nó là loài mới. Những nghiên cứu này của GS.
Đào Văn Tiến được công bố trên tạp chí động vật học Đức, ông đặt tên khoa học cho loài Culi này là Nycticebus intermedius. Tình hình nghiên cứu Cu li ở vƣờn quốc gia KonKaKinh. Hiện tại chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào về loài Culi ở VQG KonKaKinh, chỉ có các cuộc điều tra đánh giá đa dạng sinh học chung, đáng chú ý có: Cuộc điều tra vào tháng 1 năm 1993 do cán bộ của Viện điều tra Quy hoạch rừng và Cục Kiểm lâm thực hiện. Cuộc điều tra xây dựng danh lục động thực vật hoang dã năm 2001 do Viện sinh thái Tài nguyên Sinh vật thuộc Viện khoa học và Công nghệ Việt Nam thực hiện.
Những kết quả nghiên cứu trước đây cho thấy VQG KonKaKinh hiện đang có 3 họ và 7 loài linh trưởng trong đó có loài Culi [6] [8]. Việc nghiên cứu Culi trên thực địa rất khó khăn, bởi chúng là loài thú hoàn toàn sinh hoạt trong đêm và rất nhút nhát. Một số địa phương gọi chúng là con Cù lần và họ cho rằng bắt gặp chúng không đem lại may mắn trong chuyến đi rừng của họ. Giới thiệu chung về loài Culi.
Theo ghi nhận từ các nghiên cứu thì VQG Kon Ka Kinh gồm có cả hai loài Cu li. Ở một số địa phương người ta gọi nó là khỉ gió, cù lần, con xấu hổ. Chúng có đặc điểm chung là đầu tròn, mõm dài, chi 5 ngón, ngón cái có vuốt thích nghi với đời sống trên cây, khả năng cầm nắm tốt. Não phát triển, thùy khứu giác bé, mắt to, một đôi vú ngực, thường đẻ 1 con.
Nơi sống chủ yếu của những loài này là 5 Nguyễn Kim Thông – 14CTM rừng thường xanh nguyên sinh hoặc thứ sinh, là loài hoạt động về đêm, thức ăn chủ yếu là con trùng, ngoài ra là lá và quả cây. Đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam 2000 và danh sách các loài cần được bảo vệ của ngành Lâm nghiệp [37]. Cu li lớn (Nycticebus bengalensis): Đầu tròn, trên đỉnh đầu có sọc màu nâu sẫm, mắt trố to, xung quanh hai mắt có vòng lông màu nâu đỏ. Từ trên đỉnh đầu có hai sọc nhỏ màu nâu nhạt chạy xuống dưới mắt.