Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số tập tính loài culi nhỏ nycticebus pygmaeus tại khu vực phía nam vườn quốc gia kon ka kinh tỉnh gia lai

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tập tính loài culi nhỏ Nycticebus pygmaeus tại phía nam Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh, Gia Lai, cung cấp thông tin chi tiết về hành vi và môi trường sống.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

45
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH LỤC HÌNH ẢNH

DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

0.1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

0.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CULI TRÊN THẾ GIỚI

0.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CULI TẠI VIỆT NAM

0.4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CU LI Ở VƯỜN QUỐC GIA KONKAKINH

0.5. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ LOÀI CULI

0.5.1. Cu li lớn (Nycticebus bengalensis)

0.5.2. Culi nhỏ (Nycticebus pygmaeus)

0.6. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VQG KONKAKINH – TỈNH GIA LAI

0.6.1. Khái quát về vị trí địa lí VQG KonKaKinh – tỉnh Gia Lai

0.6.2. Điều kiện tự nhiên

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình hình nghiên cứu Culi trên thế giới

1.2. Tình hình nghiên cứu Culi tại Việt Nam

1.3. Tình hình nghiên cứu Cu li ở vườn quốc gia KonKaKinh

1.4. Giới thiệu chung về loài Culi

1.4.1. Cu li lớn (Nycticebus bengalensis)

1.4.2. Culi nhỏ (Nycticebus pygmaeus)

1.5. Hiện trạng bảo tồn và phân bố

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng: Cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus)

2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.3. Mục đích nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp

2.4.2. Phương pháp nghiên cứu vùng sống

2.4.3. Phương pháp thu thập tập tính hoạt động của loài Cu li

2.4.4. Phương pháp xử lí số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN

3.1. Vùng sống của Culi tại VQG Kon Ka Kinh

3.1.1. Nơi sống của Cu li nhỏ

3.1.2. Kích thước vùng sống của Cu li nhỏ tại VQG Kon Ka Kinh

3.2. Nghiên cứu một số tập tính của Culi nhỏ

3.2.1. Thời gian hoạt động của loài Culi tại VQG Kon Ka Kinh

3.2.2. Tập tính ăn của Cu li nhỏ

3.2.3. Tập tính di chuyển của Cu li nhỏ

3.2.4. Các kiểu tư thế vận động

3.3. Một số vấn đề bảo tồn Cu li tại Kon Ka Kinh

3.3.1. Săn bắt và buôn bán

3.3.2. Các hoạt động ảnh hưởng đến sinh cảnh

3.4. Kết luận và kiến nghị

3.4.1. Về vùng sống

3.4.2. Về tập tính của loài

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Nghiên cứu tập tính loài culi nhỏ Nycticebus pygmaeus

Nghiên cứu tập tính loài culi nhỏ Nycticebus pygmaeus tại phía nam Vườn Quốc Gia Kon Ka Kinh, Gia Lai tập trung vào việc phân tích các hành vi sinh học và sinh thái của loài này. Nghiên cứu tập tính bao gồm thời gian hoạt động, tập tính ăn, và di chuyển. Loài culi nhỏ được quan sát chủ yếu vào ban đêm, với thời gian hoạt động từ 18h đến 6h sáng. Tập tính ăn của chúng chủ yếu là côn trùng, quả cây, và lá non. Loài culi nhỏ cũng thể hiện các kiểu di chuyển đặc trưng như leo trèo và đu người trên cây. Những nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học cho việc bảo tồn loài trong môi trường tự nhiên.

1.1. Tập tính hoạt động

Tập tính hoạt động của loài culi nhỏ Nycticebus pygmaeus được ghi nhận chủ yếu vào ban đêm. Chúng bắt đầu hoạt động từ khoảng 18h và kết thúc vào 6h sáng. Trong thời gian này, chúng di chuyển, kiếm ăn, và tương tác với các cá thể khác. Quan sát cho thấy chúng dành khoảng 70% thời gian ban đêm để kiếm ăn và 30% để di chuyển. Điều này phản ánh sự thích nghi của loài với môi trường sống về đêm, giúp chúng tránh được các mối đe dọa từ kẻ thù tự nhiên.

1.2. Tập tính ăn

Tập tính ăn của loài culi nhỏ Nycticebus pygmaeus chủ yếu tập trung vào côn trùng, quả cây, và lá non. Chúng sử dụng khả năng leo trèo linh hoạt để tiếp cận nguồn thức ăn trên các cành cây cao. Quan sát cho thấy chúng dành khoảng 50% thời gian kiếm ăn để bắt côn trùng, 30% để ăn quả cây, và 20% để ăn lá non. Điều này cho thấy sự đa dạng trong chế độ ăn của loài, giúp chúng thích nghi với các điều kiện môi trường khác nhau.

II. Môi trường sống và bảo tồn loài culi nhỏ

Môi trường sống của loài culi nhỏ Nycticebus pygmaeus tại Vườn Quốc Gia Kon Ka Kinh, Gia Lai được đặc trưng bởi các khu rừng thưa, thoáng, và có nhiều cây bụi. Vườn Quốc Gia Kon Ka Kinh là một trong những khu vực có đa dạng sinh học cao, cung cấp môi trường sống lý tưởng cho loài này. Tuy nhiên, các hoạt động của con người như khai thác lâm sản và săn bắt đang đe dọa đến sự tồn tại của loài. Bảo tồn loài cần được thực hiện thông qua các biện pháp bảo vệ môi trường sống và hạn chế các hoạt động săn bắt trái phép.

2.1. Môi trường sống

Môi trường sống của loài culi nhỏ Nycticebus pygmaeus tại Vườn Quốc Gia Kon Ka Kinh, Gia Lai chủ yếu là các khu rừng thưa, thoáng, và có nhiều cây bụi. Chúng thích nghi với các sinh cảnh có độ che phủ vừa phải, nơi chúng có thể dễ dàng di chuyển và kiếm ăn. Vườn Quốc Gia Kon Ka Kinh cung cấp một môi trường sống lý tưởng với hệ sinh thái đa dạng, bao gồm nhiều loài thực vật và động vật khác nhau. Điều này giúp loài culi nhỏ có thể tìm kiếm thức ăn và tránh được các mối đe dọa từ kẻ thù tự nhiên.

2.2. Bảo tồn loài

Bảo tồn loài culi nhỏ Nycticebus pygmaeus cần được thực hiện thông qua các biện pháp bảo vệ môi trường sống và hạn chế các hoạt động săn bắt trái phép. Vườn Quốc Gia Kon Ka Kinh đã thực hiện nhiều chương trình bảo tồn nhằm bảo vệ các loài động vật hoang dã, trong đó có loài culi nhỏ. Các biện pháp bao gồm tăng cường tuần tra, giám sát, và giáo dục cộng đồng về tầm quan trọng của việc bảo tồn đa dạng sinh học. Điều này giúp giảm thiểu các mối đe dọa từ con người và đảm bảo sự tồn tại lâu dài của loài trong tự nhiên.

III. Đặc điểm sinh thái và hành vi xã hội

Đặc điểm sinh thái của loài culi nhỏ Nycticebus pygmaeus bao gồm khả năng thích nghi với môi trường sống đa dạng và chế độ ăn phong phú. Hành vi xã hội của loài này được thể hiện qua các tương tác giữa các cá thể trong quá trình kiếm ăn và sinh sản. Loài culi nhỏ thường sống đơn độc, nhưng cũng có thể tạo thành các nhóm nhỏ trong mùa sinh sản. Những nghiên cứu này giúp hiểu rõ hơn về đặc điểm sinh học và hành vi của loài, từ đó đưa ra các biện pháp bảo tồn hiệu quả.

3.1. Đặc điểm sinh thái

Đặc điểm sinh thái của loài culi nhỏ Nycticebus pygmaeus bao gồm khả năng thích nghi với môi trường sống đa dạng và chế độ ăn phong phú. Chúng có thể sống trong các khu rừng thưa, thoáng, và có nhiều cây bụi. Hệ sinh thái tại Vườn Quốc Gia Kon Ka Kinh cung cấp nguồn thức ăn dồi dào, bao gồm côn trùng, quả cây, và lá non. Điều này giúp loài culi nhỏ có thể tồn tại và phát triển trong môi trường tự nhiên.

3.2. Hành vi xã hội

Hành vi xã hội của loài culi nhỏ Nycticebus pygmaeus được thể hiện qua các tương tác giữa các cá thể trong quá trình kiếm ăn và sinh sản. Loài này thường sống đơn độc, nhưng cũng có thể tạo thành các nhóm nhỏ trong mùa sinh sản. Các cá thể thường tương tác với nhau thông qua các hành vi như chải lông và chia sẻ thức ăn. Những nghiên cứu này giúp hiểu rõ hơn về đặc điểm sinh học và hành vi của loài, từ đó đưa ra các biện pháp bảo tồn hiệu quả.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Cu li là loài được Sách đỏ Việt Nam và thế giới xếp vào loài thú có nguy cơ tuyệt chủng trong tương lai gần (V). Tuy nghị định 32 của chính phủ về quản lý thực vật rừng - động vật rừng nguy cấp, quý hiếm xếp culi trong nhóm 1B, nhưng điều đó không bảo vệ được loài này thoát khỏi nguy cơ tuyệt chủng. Cu li thuộc danh sách các loài cần được bảo vệ của ngành lâm nghiệp (Phụ lục IB Nghị định 48/2002/NĐ-CP ngày 22/4/2002 của chính phủ) [1]. Theo sách đỏ Việt Nam, Cu li thuộc bộ linh trưởng, sống trong nhiều sinh cảnh rừng khác nhau, kiếm ăn ở những rừng thưa quang thoáng, trên các gốc cây, bụi rậm, dây leo, bụi tre và sống đơn độc, lặng lẽ.

Năm 2000, cùng Sách đỏ Việt Nam, Tổ chứ quốc tế về bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên (IUCN) đã xếp culi vào độ nguy cấp bậc V (có thể bị đe dọa tuyệt chủng) [1]. Vườn Quốc Gia (VQG) Kon Ka Kinh, tỉnh Gia Lai là một trong những khu vực có mức độ đa dạng sinh học cao, với nhiều hệ sinh thái đặc trưng, độc đáo. Vườn được công nhận là Vườn di sản Asian, một trong các khu vực được ưu tiên bảo vệ của Việt Nam. Đặc biệt VQG Kon Ka Kinh có sự đa dạng về các loài thú linh trưởng, trong đó có các loài quý hiếm, nguy cấp như Vooc Chà Vá Chân Xám (Pygathix cinerea), Vượn đen má hung (Nomascus annamesis), Cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus), khỉ mặt đỏ (Macaca arctoides), khỉ đuôi lợn (macaca Leonia) [8] [9].

Hiện tại chưa có những nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm sinh học, tập tính của loài cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus), tại VQG Kon Ka Kinh, tạo cơ sở cho các biện pháp kĩ thuật bảo tồn loài này.Đặc biệt trước những tác động của con người như khai thác lâm sản, chặt phá rừng làm nương rẫy đã và đang làm ảnh hưởng đến độ che phủ rừng, thu hẹp nơi sống, và kiếm ăn của nhiều loài động vật hoang dã trong đó có Cu li. Mặt khác tình trạng săn bắt, buôn bán chúng như loài động vật cảnh cũng là mối đe dọa đến sự tồn tại của chúng ngoài tự nhiên. 1 Nguyễn Kim Thông – 14CTM Đứng trước thực tế đó, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số tập tính về loài culi nhỏ (Nycticebus pymaeus) tại Vườn quốc gia Kon Ka Kinh – tỉnh Gia Lai” nhằm nghiên cứu vùng sống và một số tập tính của loài, tạo cơ sở dữ liệu khoa học cho công tác bảo tồn loài. Với đề tài này, chúng tôi thực hiện các nội dung sau: - Nghiên cứu vùng sống của Culi tại VQG Kon Ka Kinh.

- Nghiên cứu một số tập tính của loài Culi tại VQG Kon Ka Kinh. 2 Nguyễn Kim Thông – 14CTM CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu Culi trên thế giới Khảo sát và điều tra sơ bộ về loài Cu-li lớn phía bắc trên 7 khu bảo tồn ở Cam- pu-chia (T.Nalder), kết hợp với thông tin có được của liên minh động vật hoang dã vào các mùa từ năm 2002 – 2009 đã ghi nhận các Cu li lớn ở phía bắc được quan sát thấy ở rừng khô và rừng nửa rụng lá ở Khu bảo tồn (KBT) động vật hoang dã Samkos và VQG Phnom Kulen.

Trong 39 giờ quan sát đã ghi nhận được 18 cá thể. Từ đó đưa ra được vùng phân bố cũng như đề xuất giải pháp bảo tồn loài Cu li lớn tại Cam-pu-chia. Bên cạnh đó, trước, trong và sau năm 1993, Cam-pu-chia chịu nhiều tổn thất của chiến tranh để lại. Điều này đã góp phần làm cho số lượng động vật hoang dã nói chung và Cu li nói riêng tại đây giảm mạnh qua những hoạt động chiến tranh trước và trong năm 1993, hoạt động khai thác gỗ, phá rừng, xây dựng đất nước sau 1993 (Baird, 1993) [11].

Một nghiên cứu khác của Ulrike Streicher (2004) đã chỉ ra những hành vi cơ bản của Cu li nhỏ tại Trung tâm cứu hộ linh trưởng nguy cấp VQG Cúc Phương khi chúng mới được đưa về. Nghiên cứu này đã chỉ ra được những thay đổi về màu lông, cân nặng, thời gian ăn uống qua những mùa trong năm của Cu li nhỏ. Tuy nhiên, kết quả của nghiên cứu này chỉ dừng lại ở những hành vi cơ bản của Cu li khi mới được đưa về trung tâm, chưa đi sâu vào những tập tính cũng như chưa chỉ ra được những điểm giống và khác nhau của Cu li khi ở khu nuôi nhốt và ngoài tự nhiên. Bên cạnh đó, phạm vi hoạt động và lãnh thổ của Cu li cũng là một trong những vấn đề đáng để nghiên cứu [30].

Năm 2002, Sindhu Radhakrishna đã quan sát và theo dõi Cu li tại khu vực phía nam Ấn Độ trong suốt 21 tháng, kết quả đã chỉ ra được phạm vi lãnh thổ của Cu li thay đổi theo từng thời điểm, từ lúc nhỏ, lúc cai sửa, đến lúc bán trưởng thành và trưởng thành. Việc quan sát và theo dõi 16 cá thể trong 2261 giờ đã chứng minh được lãnh thổ của Cu li được chia làm 2 phần, phần lõi là nơi ngủ nghỉ của chúng và phần hoạt động 3 Nguyễn Kim Thông – 14CTM là phần bên ngoài tiếp giáp với vùng lõi. Phạm vi lãnh thổ của từng cá thể có thể chồng lên nhau, nhưng không chồng lên phần lõi. Điều này có nghĩa các cá thể Cu li có thể sử dụng chung 1 lãnh thổ để kiếm ăn, trao đổi các tập tính xã hội tuy nhiên chúng không bao giờ xâm phạm đến vùng lõi của nhau.

Ngoài ra, Sindhu Radhakrishna cũng đã chỉ ra được lãnh thổ trung bình của cá thể Cu li đực có thể lên đến 1ha, trong khi cá thể cái có phạm vi lãnh thổ nhỏ hơn. Sự chồng chéo lên lãnh thổ của nhau cũng có sự thay đổi giữa đực và cái [28]. Tình hình nghiên cứu Culi tại Việt Nam Năm 1907, Bonhote lần đầu tiên sưu tầm được ở Nha Trang loài Culi nhỏ. Ông đã mô tả và công bố nó trên tạp chí của hội động vật học London với tên khoa học là Nycticebus pygmaeus, điều này đã góp phần hình thành các nghiên cứu chuyên sâu hơn về loài này [12].

Đơn cử là nghiên cứu về sinh thái và đề xuất bảo tồn loài Cu li nhỏ tại Việt Nam của Streicher năm 2004 đã chỉ ra được các tập tính cũng như luật và hành vi xử phạt đối với việc buôn bán, săn bắt loài Cu li ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam [30]. Tuy nhiên, việc nghiên cứu tập tính của Cu li nhỏ vào lúc đó còn nhiều hạn chế. Vì thế, năm 2009, Ulrike Stricher đã tiếp tục nghiên cứu và chỉ ra khẩu phần ăn cũng như tập tính chuyên sâu hơn về loài Cu li nhỏ tại Việt Nam. Kết quả đã ghi nhận trên các cá thể đực trưởng thành, đây là những cá thể được thu giữ từ các vụ buôn bán động vật hoang dã trái phép, được nuôi dưỡng tại Trung tâm cứu hộ linh trưởng nguy cấp VQG Cúc Phương.

Sau đó, Cu li được gắn thiết bị Radio và tái thả vào VQG Cúc Phương. Một nghiên cứu khác về “Bảo vệ động vật có vú tại VQG Cát Tiên (Polet, Gert, 2004)” đã đưa ra các giải pháp bảo tồn loài tại VQG Cát tiên, mở ra một hướng mới trong công tác bảo tồn động vật có vú tại Việt Nam, hay nghiên cứu tập tính Vooc Chà vá chân xám (Pygathrix cinerea) tại Gia Lai, Việt Nam (Nguyễn Thị Tịnh, 2010) đã chỉ ra được các đặc điểm về sinh thái dưỡng, cấu trúc bầy đàn, cấu trúc vùng sống cũng như các mối đe dọa, từ đó đề xuất giải pháp và bảo tồn hiệu quả loài Vooc Chà Vá 4 Nguyễn Kim Thông – 14CTM Chân Xám. Bên cạnh đó, nghiên cứu này còn cho cái nhìn tổng quan hơn về tập tính giữa Cu li và Chà Vá Chân Xám [17] [27]. Ngoài ra, trong một chuyến khảo sát ở tỉnh Hòa Bình ngày 26/01/1957, GS.

Đào Văn Tiến đã thu được 1 mẫu Culi có những đặc điểm tương đối khác với hai loài đã được biết là Culi lớn và Culi nhỏ. Ông đã nghiên cứu và so sánh sự khác biệt về các đặc điểm sọ, màu long và kích thước cơ thể của mẫu này với các mẫu Cui đã được nghiên cứu từ trước đó. Dựa vào những khác biệt cụ thể các răng hàm, số đo cơ thể ở dạng trung gian và màu lông ánh bạc, ông đưa ra quan điểm cho rằng nó là loài mới. Những nghiên cứu này của GS.

Đào Văn Tiến được công bố trên tạp chí động vật học Đức, ông đặt tên khoa học cho loài Culi này là Nycticebus intermedius. Tình hình nghiên cứu Cu li ở vƣờn quốc gia KonKaKinh. Hiện tại chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào về loài Culi ở VQG KonKaKinh, chỉ có các cuộc điều tra đánh giá đa dạng sinh học chung, đáng chú ý có: Cuộc điều tra vào tháng 1 năm 1993 do cán bộ của Viện điều tra Quy hoạch rừng và Cục Kiểm lâm thực hiện. Cuộc điều tra xây dựng danh lục động thực vật hoang dã năm 2001 do Viện sinh thái Tài nguyên Sinh vật thuộc Viện khoa học và Công nghệ Việt Nam thực hiện.

Những kết quả nghiên cứu trước đây cho thấy VQG KonKaKinh hiện đang có 3 họ và 7 loài linh trưởng trong đó có loài Culi [6] [8]. Việc nghiên cứu Culi trên thực địa rất khó khăn, bởi chúng là loài thú hoàn toàn sinh hoạt trong đêm và rất nhút nhát. Một số địa phương gọi chúng là con Cù lần và họ cho rằng bắt gặp chúng không đem lại may mắn trong chuyến đi rừng của họ. Giới thiệu chung về loài Culi.

Theo ghi nhận từ các nghiên cứu thì VQG Kon Ka Kinh gồm có cả hai loài Cu li. Ở một số địa phương người ta gọi nó là khỉ gió, cù lần, con xấu hổ. Chúng có đặc điểm chung là đầu tròn, mõm dài, chi 5 ngón, ngón cái có vuốt thích nghi với đời sống trên cây, khả năng cầm nắm tốt. Não phát triển, thùy khứu giác bé, mắt to, một đôi vú ngực, thường đẻ 1 con.

Nơi sống chủ yếu của những loài này là 5 Nguyễn Kim Thông – 14CTM rừng thường xanh nguyên sinh hoặc thứ sinh, là loài hoạt động về đêm, thức ăn chủ yếu là con trùng, ngoài ra là lá và quả cây. Đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam 2000 và danh sách các loài cần được bảo vệ của ngành Lâm nghiệp [37]. Cu li lớn (Nycticebus bengalensis): Đầu tròn, trên đỉnh đầu có sọc màu nâu sẫm, mắt trố to, xung quanh hai mắt có vòng lông màu nâu đỏ. Từ trên đỉnh đầu có hai sọc nhỏ màu nâu nhạt chạy xuống dưới mắt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu tập tính loài culi nhỏ Nycticebus pygmaeus tại phía nam Vườn Quốc Gia Kon Ka Kinh, Gia Lai là một tài liệu chuyên sâu về hành vi và sinh thái của loài culi nhỏ, một loài linh trưởng quý hiếm. Nghiên cứu này cung cấp thông tin chi tiết về môi trường sống, tập tính kiếm ăn, sinh sản và các yếu tố đe dọa đến sự tồn tại của loài này. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà bảo tồn, nhà nghiên cứu sinh học và những người quan tâm đến đa dạng sinh học tại Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến đa dạng sinh học và bảo tồn, bạn có thể tham khảo Khóa luận tốt nghiệp đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học và nguồn lợi động vật thân mềm chân bụng Gastropoda tại khu bảo tồn biển Cồn Cỏ. Ngoài ra, Đề cương nghiên cứu luận văn thạc sĩ điều tra đa dạng loài và quần xã thực vật của rừng phòng hộ Nam Hòn Khô cũng là một tài liệu đáng chú ý để hiểu thêm về đa dạng thực vật. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ lâm học đặc điểm cấu trúc và đa dạng loài cây gỗ của trạng thái rừng nghèo và trung bình sẽ cung cấp thêm góc nhìn về cấu trúc rừng và đa dạng loài. Hãy khám phá để có cái nhìn toàn diện hơn về chủ đề này!