Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tính đến năm 2017, tổng diện tích rừng tại Việt Nam đạt khoảng 14,4 triệu hecta với độ che phủ toàn quốc là 41,45%. Mặc dù diện tích có xu hướng gia tăng nhờ các chương trình trồng rừng, chất lượng rừng tự nhiên vẫn suy giảm nghiêm trọng do các tác động nhân vi kéo dài như khai thác quá mức và canh tác nương rẫy. Sự suy thoái này kéo theo suy giảm đa dạng sinh học và phá vỡ cấu trúc nguyên sinh của các hệ sinh thái rừng nhiệt đới. Vấn đề phục hồi và quản lý rừng bền vững đòi hỏi phải nắm vững các quy luật sinh thái, trong đó tái sinh tự nhiên là khâu then chốt phản ánh tiềm năng phục hồi và định hình cấu trúc lâm phần tương lai.

Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Thần Sa – Phượng Hoàng thuộc huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên được thành lập theo Quyết định số 3841/QĐ-UB ngày 01/12/1999 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên với diện tích ban đầu là 11.220 ha. Đến ngày 10/7/2014, UBND tỉnh Thái Nguyên ban hành Quyết định số 1518/QĐ-UBND phê duyệt điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng giai đoạn 2003–2020, điều chỉnh ranh giới khu bảo tồn trên địa bàn 7 xã (Cúc Đường, Vũ Chấn, Nghinh Tường, Sảng Mộc, Thượng Nung, Thần Sa, Phú Thượng) và thị trấn Đình Cả, nâng tổng diện tích quy hoạch vùng lõi lên trên 17.000 ha. Nơi đây sở hữu hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi đặc trưng vùng Đông Bắc với nguồn gen động, thực vật phong phú. Tuy nhiên, áp lực dân sinh từ 4.446 hộ gia đình (tỷ lệ hộ nghèo chiếm 32,5%) chủ yếu dựa vào nương rẫy và khai thác lâm sản đã làm suy giảm nghiêm trọng tài nguyên rừng. Đề tài "Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên trạng thái rừng phục hồi tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, tỉnh Thái Nguyên" được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu thực địa phục vụ công tác bảo tồn.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Xác định được các đặc điểm cấu trúc tổ thành loài và mật độ tầng cây gỗ.
  2. Xác định được một số đặc điểm tái sinh tự nhiên trạng thái rừng phục hồi (tổ thành, mật độ, cây triển vọng, phẩm chất, nguồn gốc và quy luật phân bố).
  3. Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh thúc đẩy quá trình tái sinh tự nhiên trạng thái rừng phục hồi tại khu vực nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng: Lớp cây tái sinh tự nhiên và tầng cây gỗ ở trạng thái rừng phục hồi (ký hiệu IIA) sau nương rẫy hoặc sau khai thác.
  • Không gian nghiên cứu: Các sinh cảnh thuộc vùng lõi Khu BTTN Thần Sa – Phượng Hoàng, phân bố trên ba dạng địa hình điển hình gồm chân núi, sườn núi và đỉnh núi.
  • Thời gian thực hiện: Thu thập số liệu thực địa từ tháng 8 năm 2017 đến tháng 12 năm 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về mặt lý luận, nghiên cứu vận dụng quan điểm sinh thái phát sinh quần thể thảm thực vật rừng nhiệt đới của Thái Văn Trừng (1978), coi thảm thực vật tái sinh là tấm gương phản chiếu tổng hòa các yếu tố hoàn cảnh tự nhiên và mức độ tác động của con người. Bên cạnh đó, đề tài tiếp cận các định nghĩa học thuật về cấu trúc rừng, khôi phục sinh thái (restoration), phục hồi (rehabilitation) và cải tạo/thay thế (reclamation/replacement), đồng thời kế thừa các quy luật quan hệ giữa độ tàn che lâm phần với sự phát triển của tầng cây tái sinh (Yurkevich, 1960; Lamprecht, 1989).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành thông qua việc thiết lập hệ thống ô tiêu chuẩn (OTC) tạm thời kết hợp ô dạng bản (ODB):

  • Thiết lập 9 OTC đại diện có diện tích 1.000 m² (kích thước 50 m × 20 m), bố trí tại 3 đai địa hình: 3 ô ở chân núi, 3 ô ở sườn núi và 3 ô ở đỉnh núi.
  • Trong mỗi OTC 1.000 m², thiết lập 5 ODB có diện tích 25 m² (5 m × 5 m); vị trí gồm 4 ô tại 4 góc và 1 ô tại tâm OTC để đo đếm lớp cây con, cây bụi và thảm tươi.
  • Tầng cây gỗ (đo các cá thể có đường kính ngang ngực $D_{1.3} \ge 6\text{ cm}$): Xác định tên loài, đo chu vi thân để quy đổi $D_{1.3}$, đo chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$), chiều cao dưới cành ($H_{dc}$) bằng sào chuyên dụng (sai số $\pm 10\text{ cm}$), đo đường kính tán ($D_t$) theo hai hướng Đông – Tây và Nam – Bắc, phân cấp phẩm chất (tốt, trung bình, xấu).
  • Tầng cây tái sinh: Định danh loài, xác định nguồn gốc (hạt hoặc chồi), đánh giá phẩm chất (tốt, trung bình, xấu), đo chiều cao cá thể và phân cấp (0–50 cm; 50–100 cm; > 100 cm). Cây triển vọng (CTV) được xác định là những cá thể đạt chất lượng tốt hoặc trung bình có chiều cao từ 1,0 m trở lên.
  • Phân tích và xử lý số liệu:
    • Chỉ số giá trị quan trọng ($IVI%$) của tầng cây cao xác định theo Daniel Marmillod (1958): $IVI_i (%) = (N_i% + G_i%) / 2$, trong đó $N_i%$ là mật độ tương đối và $G_i%$ là tiết diện ngang tương đối. Các loài có $IVI \ge 5%$ được đưa vào công thức tổ thành.
    • Công thức tổ thành cây tái sinh xác định theo tỷ lệ phần trăm số cá thể ($n% \ge 5%$) và tính hệ số tổ thành $K_i = 10 \times (n_i / N)$.
    • Phân bố không gian mặt phẳng nằm ngang của cây tái sinh được kiểm định bằng tiêu chuẩn chuẩn tắc $U$ của Clark và Evans thông qua khoảng cách giữa cá thể ngẫu nhiên đến cá thể lân cận gần nhất ($n > 30$). Nếu $U < -1,96$, quần thể có phân bố dạng cụm; nếu $-1,96 \le U \le 1,96$, phân bố ngẫu nhiên; nếu $U > 1,96$, phân bố đều.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Nêu tổng quan tính cấp thiết của công tác bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý rừng bền vững tại vùng núi đá vôi tỉnh Thái Nguyên. Xác định rõ mục đích nghiên cứu, 3 mục tiêu cụ thể, ý nghĩa khoa học trong việc vận dụng lý thuyết lâm học vào thực nghiệm địa phương và ý nghĩa thực tiễn đối với Ban quản lý Khu BTTN Thần Sa – Phượng Hoàng.

Phần 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Hệ thống hóa cơ sở khoa học về diễn thế, tái sinh tự nhiên, cấu trúc tầng thứ rừng nhiệt đới của các tác giả quốc tế (Yurkevich, Lamprecht, Richards, Odum) và trong nước (Trần Đình Lý, Đặng Kim Vui, Vũ Tiến Hinh, Nguyễn Ngọc Lung, Thái Văn Trừng, Vũ Đình Huề, Trần Ngũ Phương, Nguyễn Văn Trương). Tổng thuật các công trình nghiên cứu trực tiếp tại Khu BTTN Thần Sa – Phượng Hoàng của Nguyễn Thị Thoa (2014) ghi nhận 611 loài thực vật thân gỗ; Ngô Xuân Hải và cộng sự (2010) thống kê 1.086 loài thực vật thuộc 160 họ; Nguyễn Duy Tùng (2014) ghi nhận 60 loài quý hiếm; Điền Thị Hồng (2012) về đồng quản lý. Khái quát điều kiện tự nhiên khu vực (nhiệt độ trung bình 22,9°C, lượng mưa 1.941,5 mm, độ ẩm 82%, đất feralit nâu đỏ trên núi đá vôi) và điều kiện kinh tế - xã hội vùng đệm gồm 5 dân tộc chính (Tày 42,4%, Dao 23,4%, Nùng 10,7%, Mông 7,4%, Kinh và các dân tộc khác).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết đối tượng nghiên cứu là trạng thái rừng phục hồi IIA; quy chuẩn bố trí 9 OTC (diện tích 1.000 m²/ô) và 45 ODB (diện tích 25 m²/ô); quy trình điều tra lâm học tầng cây cao, tầng tái sinh, cây bụi, thảm tươi, dây leo; hệ thống công thức toán học thống kê mô tả, công thức $IVI$, công thức tổ thành, mật độ, tỷ lệ CTV và thuật toán kiểm định phân bố mặt phẳng ngang $U$ của Clark và Evans.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương tập trung phân tích số liệu thực địa thu được từ 9 OTC và 45 ODB, làm rõ các quy luật sinh thái của trạng thái rừng phục hồi:

  • Tổ thành và mật độ tầng cây gỗ: Mật độ biến động từ 350 đến 620 cây/ha, trung bình toàn khu vực đạt 460 cây/ha. Số loài bắt gặp dao động từ 13 đến 23 loài/OTC, trung bình 17 loài/OTC. Số loài ưu thế tham gia công thức tổ thành ($IVI \ge 5%$) có từ 5 đến 9 loài. Các loài cây chiếm ưu thế chủ yếu là loài ưa sáng mọc nhanh như Kháo trơn, Dẻ gai, Côm tầng, Sồi phảng, Dẻ lá tre, Táu muối, Thành ngạnh, Trâm trắng.
  • Cấu trúc tổ thành và mật độ cây tái sinh: Số lượng loài tái sinh dao động từ 8 đến 24 loài/OTC. Mật độ cây tái sinh biến động rất lớn, từ 240 đến 1.790 cây/ha. Tổ thành lớp cây tái sinh chiếm ưu thế bởi Dẻ gai, Mạy tèo, Thành ngạnh, Nhọc, Sồi phảng, Táu muối, Xoan nhừ, Kháo, Trám trắng. Mật độ cây con có xu hướng giảm dần từ chân núi lên đỉnh núi.
Vị trí địa hình Mật độ tầng gỗ (cây/ha) Số loài gỗ TB/ô Mật độ tái sinh TB (cây/ha) Tỷ lệ cây triển vọng TB (%) Nguồn gốc hạt TB (%) Nguồn gốc chồi TB (%)
Chân núi (OTC 5, 7, 9) 433 18 1.130 34,40 85,19 14,81
Sườn núi (OTC 3, 4, 8) 490 17 707 31,70 74,77 25,23
Đỉnh núi (OTC 1, 2, 6) 457 16 737 36,29 76,05 23,95
Toàn khu vực 460 17 858 34,13 78,67 21,33
  • Tỷ lệ cây triển vọng (CTV): Biến động từ 21,78% đến 43,96%, trung bình toàn trạng thái đạt 34,13%. Mật độ CTV bình quân tại chân núi đạt 423 cây/ha, sườn núi đạt 263 cây/ha và đỉnh núi đạt 280 cây/ha.
  • Phẩm chất và nguồn gốc cây tái sinh: Cây tái sinh có chất lượng tốt và trung bình chiếm ưu thế áp đảo. Cây tốt đạt 50,61% – 54,80%; cây trung bình đạt 38,07% – 39,64%; cây xấu chỉ chiếm 6,72% – 13,32%. Về nguồn gốc, cây tái sinh từ hạt chiếm ưu thế tuyệt đối với tỷ lệ trung bình từ 74,77% đến 85,19% (dao động các ô từ 64,56% đến 93,93%), trong khi tái sinh chồi chỉ dao động từ 6,07% đến 35,44%.
  • Phân bố theo cấp chiều cao: Tầng tái sinh phân hóa rõ nét qua 3 cấp chiều cao. Cấp 0–50 cm có mật độ trung bình 136 cây/ha (chiếm 15,9%); cấp 50–100 cm đạt 396 cây/ha (chiếm 46,2%); cấp > 100 cm đạt 325 cây/ha (chiếm 37,9%). Tỷ lệ cây ở cấp chiều cao thấp (< 50 cm) chiếm tỷ lệ nhỏ do sự cạnh tranh gay gắt về ánh sáng và dinh dưỡng của tầng cây bụi, thảm tươi.
  • Phân bố theo mặt phẳng nằm ngang: Kết quả tính toán chỉ số $U$ theo Clark và Evans tại cả ba vị trí địa hình đều cho giá trị âm sâu: chân núi có $U = -7,3$; sườn núi có $U = -8,5$; đỉnh núi có $U = -7,9$ (đều nhỏ hơn ngưỡng $-1,96$). Điều này khẳng định lớp cây tái sinh dưới tán rừng phục hồi IIA phân bố hoàn toàn theo kiểu cụm.
  • Ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái: Tầng cây bụi có chiều cao 3,5–5,0 m (mật độ 1.520–2.530 cá thể/ha, chủ yếu là Sim, Mua, Song mật, Nứa, Củ nâu) và thảm tươi có độ che phủ 30%–40% (Cỏ lào, Bông lau, Dương xỉ, Cỏ tranh, Chít) cạnh tranh trực tiếp không gian sống với cây tái sinh nhỏ. Địa hình ảnh hưởng rõ đến mật độ và số lượng CTV (chân núi cao hơn hẳn sườn và đỉnh) nhưng không làm biến đổi đáng kể tỷ lệ phẩm chất tốt/xấu. Độ tàn che của tầng cây cao quyết định lượng ánh sáng lọt xuống sàn rừng, chi phối mật độ và tỷ lệ chuyển tiếp chiều cao của cây con.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại hệ thống kết quả định lượng về trạng thái rừng phục hồi tại Khu BTTN Thần Sa – Phượng Hoàng:

  • Xác định tầng cây gỗ đạt mật độ trung bình 460 cây/ha với 17 loài/OTC; tầng cây tái sinh đạt mật độ trung bình 858 cây/ha (dao động 240–1.790 cây/ha), trong đó mật độ cây triển vọng trung bình là 322 cây/ha, chiếm tỷ lệ 34,13%.
  • Chứng minh tiềm năng phục hồi tự nhiên cao của lâm phần thông qua tỷ lệ tái sinh hạt chiếm đa số (trung bình 78,67%) và phẩm chất cây tốt/trung bình chiếm trên 90%.
  • Xác định được quy luật không gian: Cây tái sinh phân bố theo dạng cụm ($U < -1,96$) và tập trung mật độ cao nhất ở cấp chiều cao từ 50 cm trở lên (chiếm trên 84% tổng số cây tái sinh).

Các giải pháp kỹ thuật lâm sinh được đề xuất dựa trên kết quả điều tra:

  • Áp dụng các biện pháp tỉa thưa, chặt nuôi dưỡng có chọn lọc nhằm điều chỉnh phân bố không gian của lâm phần từ phân bố cụm sang phân bố ngẫu nhiên hoặc phân bố đều, tạo điều kiện tận dụng tối đa diện tích dinh dưỡng.
  • Phát dọn dây leo (Giảo cổ lam, Dây móc mèo, Vuốt hùm, Sắn dây rừng), tỉa thưa cây bụi thảm tươi xâm lấn cục bộ quanh gốc cây tái sinh triển vọng để mở tán, cung cấp ánh sáng cho tầng cây con sinh trưởng vươn tầng.
  • Tăng cường các biện pháp phòng cháy rừng trong mùa khô hạn, đặc biệt tại các khu vực sườn và đỉnh núi có độ che phủ thảm tươi cỏ tranh, chít cao.
  • Bảo vệ nghiêm ngặt các cây mẹ gieo giống hiện có trong lâm phần (Kháo, Dẻ, Sồi, Trám, Táu) để duy trì nguồn hạt giống tái sinh tự nhiên liên tục.
  • Kết hợp các biện pháp kỹ thuật với chính sách giao khoán quản lý bảo vệ rừng, hỗ trợ sinh kế và nâng cao nhận thức bảo tồn cho cộng đồng dân tộc thiểu số tại vùng đệm.

Về đóng góp học thuật, đề tài bổ sung bộ dẫn liệu định lượng về động thái phục hồi rừng trên nền địa hình núi đá vôi bị chia cắt mạnh tại huyện Võ Nhai, đóng góp cứ liệu thực chứng cho việc xây dựng phương án quản lý rừng đặc dụng tại tỉnh Thái Nguyên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện:

  • Thời gian nghiên cứu thực địa chỉ kéo dài 5 tháng (từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2017), chưa theo dõi được biến động mùa vụ sinh học đầy đủ trong cả năm (đặc biệt là mùa phát tán hạt và nảy mầm của các loài cây gỗ chính vào mùa xuân – hè).
  • Dung lượng mẫu điều tra giới hạn ở 9 ô tiêu chuẩn trên trạng thái IIA, chưa mở rộng so sánh đối chứng với các trạng thái rừng khác (như rừng nghèo kiệt IIB, rừng trung bình IIIA hay rừng giàu núi đá).
  • Nghiên cứu chưa đi sâu phân tích hàm lượng dinh dưỡng lý - hóa học của các phẫu diện đất tại từng đai địa hình để đối chiếu tương quan sinh trưởng của cây tái sinh.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung:

  • Thiết lập các ô định vị sinh thái cố định để quan trắc liên tục động thái tăng trưởng chiều cao, đường kính và tỷ lệ đào thải tự nhiên của lớp cây tái sinh qua nhiều năm.
  • Mở rộng nghiên cứu quy luật gieo giống, khả năng phát tán hạt của các loài cây gỗ quý hiếm bản địa (Nghiến, Trai lý, Đinh) trong khu bảo tồn.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Khoa học môi trường và Sinh thái học thực vật trong việc nắm bắt phương pháp điều tra thực địa ô tiêu chuẩn, ô dạng bản và xử lý số liệu cấu trúc tầng thứ bằng các chỉ số sinh thái ($IVI$, tiêu chuẩn $U$).
  • Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng và Hạt Kiểm lâm Võ Nhai trong việc tham chiếu dữ liệu để lập kế hoạch phân vùng bảo vệ, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có tác động kỹ thuật lâm sinh trên địa bàn 7 xã vùng đệm.
  • Phần phương pháp tính toán tổ thành, tỷ lệ cây triển vọng và bảng số liệu phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao, độ tàn che là các nội dung mẫu có thể áp dụng trực tiếp cho các đề tài điều tra lâm phần phục hồi sau canh tác nương rẫy tại vùng núi Đông Bắc.

Câu hỏi thường gặp

1. Mật độ trung bình của tầng cây gỗ và lớp cây tái sinh tại khu vực nghiên cứu là bao nhiêu? Mật độ trung bình của tầng cây gỗ ($D_{1.3} \ge 6\text{ cm}$) đạt 460 cây/ha (dao động từ 350 đến 620 cây/ha). Mật độ trung bình của lớp cây tái sinh đạt 858 cây/ha, trong đó biến động giữa các ô tiêu chuẩn dao động từ 240 đến 1.790 cây/ha.

2. Tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng (CTV) tại các vị trí địa hình khác nhau như thế nào? Tỷ lệ CTV trung bình toàn khu vực đạt 34,13% (dao động từ 21,78% đến 43,96%). Xét theo vị trí địa hình, chân núi đạt tỷ lệ CTV trung bình là 34,40% (mật độ 423 cây/ha); sườn núi đạt 31,70% (mật độ 263 cây/ha); đỉnh núi đạt 36,29% (mật độ 280 cây/ha).

3. Nguồn gốc của lớp cây tái sinh trạng thái IIA chủ yếu xuất phát từ đâu? Cây tái sinh chủ yếu có nguồn gốc từ hạt gieo tự nhiên, chiếm từ 64,56% đến 93,93% tổng số cây tái sinh tùy từng ô (trung bình chân núi đạt 85,19%, sườn núi 74,77%, đỉnh núi 76,05%). Tái sinh chồi chỉ chiếm tỷ lệ phụ trợ từ 6,07% đến 35,44%.

4. Kiểu phân bố không gian mặt phẳng nằm ngang của lớp cây tái sinh là gì? Lớp cây tái sinh phân bố theo kiểu cụm trên cả ba dạng địa hình. Kết quả kiểm định tiêu chuẩn $U$ của Clark và Evans đều cho giá trị âm sâu vượt ngưỡng $-1,96$, cụ thể: chân núi $U = -7,3$; sườn núi $U = -8,5$; đỉnh núi $U = -7,9$.

5. Lớp cây tái sinh tập trung nhiều nhất ở cấp chiều cao nào? Số lượng cây tái sinh tập trung cao nhất ở cấp chiều cao 50–100 cm với trung bình 396 cây/ha (chiếm 46,2%), tiếp đến là cấp chiều cao > 100 cm với 325 cây/ha (chiếm 37,9%). Cấp chiều cao 0–50 cm có số lượng thấp nhất với 136 cây/ha (chiếm 15,9%).

Kết luận

Khóa luận của tác giả Hoàng Văn Hơn đã phản ánh khách quan và chi tiết các đặc điểm cấu trúc lâm học của trạng thái rừng phục hồi IIA tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng. Dữ liệu thực nghiệm từ 9 ô tiêu chuẩn khẳng định tiềm năng phục hồi tự nhiên của lâm phần là rất khả quan nhờ tỷ lệ cây tái sinh nguồn gốc hạt cao (gần 79%) và chất lượng tốt/trung bình chiếm ưu thế. Tuy nhiên, mật độ cây con còn ở mức trung bình thấp, phân bố dạng cụm và chịu sự cạnh tranh khốc liệt từ tầng cây bụi, thảm tươi cao 3,5–5 m. Các giải pháp lâm sinh can thiệp như phát dọn dây leo chèn ép, điều tiết độ tàn che và bảo vệ nghiêm ngặt cây mẹ gieo giống được đề xuất là cơ sở thực tiễn quan trọng phục vụ công tác quy hoạch bảo tồn tài nguyên rừng tại địa phương.