CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN CUA CẠNH TRANH SỨC MẠNH MEM TRUNG - MỸ Ở VIỆT NAM TRONG BOI CANH XUNG DOT TẠI BIEN DONG 1. Co sở lý luận và thực tiễn 1. Khái niệm cạnh tranh Khái niệm cạnh tranh ra đời khi nền kinh tế thị trường xuất hiện. Tuy nhiên trong quá trình phát triển, khái niệm cạnh tranh không chỉ dừng ở lĩnh vực kinh tế, mà còn phát triển trên nhiều lĩnh vực khác.
Hiểu đơn giản nhất, cạnh tranh là trạng thái đối đầu giữa hai hoặc nhiều chủ thé nham đạt được lợi ích nào đó. Mỗi chủ thể tham gia không ngần ngại hy sinh lợi ích của người khác đề tối đa hóa lợi ích cá nhân,giành lấy lợi ích về phía mình. Cạnh tranh trong Lý thuyết chủ nghĩa hiện thực (còn gọi là Chính trị học quyền lực - Power Politics): theo chủ nghĩa hiện thực cạnh tranh là bản chất của quan hệ quốc tế, và mục đích của sự cạnh tranh đó là quyền lực/sức mạnh bởi: quốc gia - dân tộc là chủ thể chính, trung tâm quyền lực trong quan hệ quốc tế. Thế giới mà các quốc gia đang sống có đặc tính là vô chính phủ.
Bởi vậy, môi trường của quan hệ quốc tế cũng là vô chủ. Các quốc gia muốn tổn tai và phát triển phải tự mình nâng cao sức mạnh tổng thé của mình, cần có quyền lực, trước hết là quyền lực quân sự dé cạnh tranh, bảo vệ và mở rộng lợi ích quốc gia - dân tộc, chống lại sự đe dọa từ bên ngoài. Chính vì vậy, xung đột lợi ích giữa các quốc gia là tuyệt đối, là bản chất, còn hợp tác là tương đối và hiện tượng. Thuyết Hiện thực cho rằng không có kẻ thù hay đồng minh nảo là vĩnh viễn.
Bất kỳ hình thức hợp tác nào cũng chỉ đơn giản là phương tiện phân bé quyền lực, đạt được lợi ích và quyền lực đã đặt ra. Theo đó, các quốc gia luôn tìm cách nâng cao quyên lực nhằm tự đảm bảo an ninh và sự tồn tại của mình trong hệ thống vô chính phủ thông qua việc cố găng giành được càng nhiều nguồn lực càng tốt. Điều này dẫn tới việc các quốc gia luôn ở trong thé cạnh tranh và đối đầu lẫn nhau. Thực tế lịch sử thế giới đã cho thấy, “sự cạnh tranh giữa các cường quốc là đặc trưng lâu dài của nén chính trị thế giới”.
Financial Times cảnh báo răng cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc là “sự phát triển địa chính trị quan trọng nhất trong thời đại của chúng ta. Cuộc cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc diễn ra trên nhiều lĩnh vực, từ kinh tế, quân sự, ngoại giao,v. Đặc biệt, kế từ khi Tổng thống Donal Trumb lên nắm quyền từ năm 2027 — 2021 với chính sách “Nước Mỹ trên hết” đã khiến cuộc cạnh tranh Mỹ - Trung ngày càng trở nên gay gắt, đặc biệt là vấn đề Biển Đông. Biển Đông trở thành một trong những đấu trường cạnh tranh chiến lược giữa hai nước này.
Khái niệm sức mạnh mém Trong nghiên cứu quan hệ quốc tế, khi nói đến sức mạnh hay quyền lực (power), người ta thường nói đến sức mạnh/ quyền lực của nhà nước và định nghĩa nó theo những cách khác nhau. Theo Barnett và Duvall: “sức mạnh là cách một quốc gia sử dụng nguồn tài nguyên vật chất của mình để bắt buộc một quốc gia khác làm điều mà quốc gia đó không muốn” [94, tr. Theo đó, nguồn tài nguyên này bao gồm năng lực quân sự và sức mạnh kinh tế. Trong lý thuyết quyên lực xã hội của Bertrand Russell, sức mạnh đơn giản là “việc tao ra các ảnh hưởng như dự định” [83, tr.
Chính trị gia người Mỹ Robert Dahl định nghĩa “sức mạnh là khả năng bắt buộc mọi người phải làm cái gì đó mà họ không thể làm khác được”. Max Weber lại định nghĩa sức mạnh là “khả năng mà một kẻ hành động trong mối quan hệ xã hội có một vị trí để thực hiện ý chí mong muốn của mình bat chấp sự chống đối” [93, tr. Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh định nghĩa “quyền lực là cái sức mạnh có thé cưỡng chế người ta phải phục tùng mình” [4, tr. Ngoài những định nghĩa quyền lực truyền thống như trên, một số học giả khác cũng đã phát triển những quan điểm khác về quyên lực.
Theo Susan Strange, quyền lực “bao gồm cả cấu trúc và quan hệ”, trong đó cấu trúc trong quyền lực là khả năng tạo ra các quy tắc, chuẩn mực và phương thức hoạt động trong hệ thống quốc tế còn quan hệ trong quyền lực là khả năng khiến người khác làm điều họ không muốn” [100, tr. Một quan điểm cấp tiến khác của Steven Lukes lại cho rằng quyền lực là “việc ap đặt các ràng buộc bên trong và chính sự tin tưởng của những người chịu sự ràng buộc đó dẫn đến sự đồng ý hoặc sự thích nghi của họ với việc bị thống tri bang các hình thức cưỡng chế hoặc không cưỡng chế” [101, tr. Tóm lại, quyền lực xét theo phương diện, quan điểm nao thì cũng đều nhắn mạnh ở một nội dung quan trọng, đó là năng lực thực hiện mục đích của chủ thể trong quan hệ quốc tế. Về mặt ngữ nghĩa, theo Hoàng Khắc Nam, “khái niệm này có thê hiểu theo nghĩa tương đương trong tiếng Việt là “sức mạnh” và quốc gia nào có khả năng duy trì độc lập và thực hiện lợi ích của mình trong quan hệ quốc tế thì đều có quyền lực/sức mạnh” [60, tr.
Trên cơ sở này, khái niệm “sức mạnh” và “quyền lực” được sử dụng trong phạm vi nghiên cứu của luận văn là đồng nhất. Về cơ bản, sức mạnh được chia ra làm hai loại: sức mạnh cứng và sức mạnh mềm. Nếu trước kết thúc Chiến tranh lạnh, sức mạnh cứng là loại hình truyền thống của công cụ chính sách đối ngoại thì trong thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh, sức mạnh mềm được chú ý hơn bởi tính hiệu quả và sự phù hợp của nó với những xu hướng phát triển mới trong quan hệ quốc tế. Thuật ngữ “sức mạnh mềm” và những vấn đề liên quan đã xuất hiện trong các học thuyết chính trị cô điển của phương Đông.
Tuy nhiên, phải đến nửa cuối thé ky XX, nó mới được tổng hợp và phát triển thành một khái niệm day đủ, độc 10 lập. Cha đẻ của luận thuyết “sức mạnh mềm” (hay “thực lực mềm”, quyền lực 33c mềm”) là GS. Nye - nguyên Hiệu trưởng trường John F. Kenedy, thuộc Đại học Harvard.
Năm 1990, trong cuốn Nhat định lãnh đạo: Diễn biến của ban chất sức mạnh nước Mỹ (Bound to Lead: The Changing Nature of American Power), học giả nay khang định: sức mạnh mềm là “khả năng khiến người khác muốn cái mà bạn muốn, do đó họ sẽ tự nguyện làm điều đó mà không phải ép buộc hay mua chuộc” [89, tr. Trong một tác phâm khác Sức mạnh mém: Công cụ tiến tới thành công trong chính trị quốc tế (Soft Power: The means to Success in World Politics), Joshef S. Nye đã phát triển quan niệm của minh về sức mạnh mềm thành luận thuyết, coi sức mạnh mềm là “khả năng đạt được điều mình muốn thông qua sức hấp dẫn thay vì cưỡng bức hay ép buộc” [90, tr. Nye, nếu sức mạnh cứng là khả năng đạt được điều chúng ta muốn bằng cách mua chuộc (củ cà rốt) hoặc đe dọa (cây gậy) thì sức mạnh mềm lại là khả năng đạt được điều chúng ta muốn bằng sự thuyết phục hoặc sức hấp dẫn dưới hình thức văn hóa, tư tưởng và chính sách đối ngoại.
Khi phân tích về mối liên hệ tổng quan giữa các định dạng hành vi và các nguồn lực, Nye đã xây dựng một phô định dạng các chuỗi hành vi từ chỉ huy (cưỡng chế, dụ dỗ) đến thu phục (lên lịch trình, quyến rũ). Dựa trên phổ hành vi này, có thé thấy các nguồn lực thích hợp nhất để phục vụ cho hành vi thu phục chính là các nguồn lực của sức mạnh mềm. Tuy sức mạnh mềm đã trở thành một khái niệm được thảo luận sôi nồi trong giới chính trị quốc tế nhưng theo J. Nye, khái niệm này đã bị hiểu sai một cách phổ biến.
Do đó, tháng 2 năm 2006, trong bài viết Suy ngẫm lại sức mạnh mêm (Think again: Soft Power), đồng thời giải thích rõ hơn một số khái niệm có liên quan mà giới nghiên cứu quốc tế thường hiểu sai. Các nội dung cụ thé gồm: 1) Đông nhât sức mạnh mêm với sức mạnh mêm văn hóa chỉ đúng ở một chừng mực 11 nhất định. Sức mạnh mềm của một quốc gia cần hội tụ đủ ba yếu tổ là văn hóa, tư tưởng chính trị và chính sách đối ngoại; 2) Sức mạnh kinh tế không phải là sức mạnh mềm là sai, sức mạnh kinh tế có thể chuyên hóa thành sức mạnh cứng hoặc sức mạnh mềm tùy thuộc vào hoàn cảnh áp dụng, trong trường hợp trừng phạt về kinh tế thì nó trở thành sức mạnh cứng, còn trong trường hợp dung của cải dé mua chuộc thì kinh tế lại phát huy tác dụng sức mạnh mềm; 3) Sức mạnh mềm không nhất thiết mang tính nhân đạo hơn sức mạnh cứng, sức mạnh mềm cũng là một loại quyền lực, do đó, giống như các loại sức mạnh khác, nó có thé được sử dụng cho các mục đích tốt hay xấu; 4) Sức mạnh mềm khó lượng hóa là quan điểm sai lầm. Nye cho rằng, giống các loại sức mạnh khác, sức mạnh mềm cũng có thé đo lường thông qua các cách tiếp cận như so sánh, lấy ý kiến; 5) Chỉ dựa vào sức mạnh cứng hay sức mạnh mềm đều sai lầm, sự kết hợp một cách hiệu quả giữa hai loại sức mạnh này tạo ra một loại sức mạnh mới gọi là sức mạnh thông minh; 6) Một số mục tiêu chỉ có thể đạt được bằng sức mạnh cứng, trong một số trường họp, như ngăn chặn chương trình hạt nhân cua Iran thì sức mạnh cứng là sự lựa chọn đúng đắn của Mỹ; 7) Nguồn lực dân sự không chỉ sản sinh ra sức mạnh cứng, nếu sử dụng vào những mục đích tốt thì sẽ sản sinh ra sức mạnh mềm, ví dụ đưa lực lượng quân đội cứu trợ nhân đạo, gin giữ hòa bình .; 8) Ở một chừng mực nhất định, sức mạnh mềm khó triển khai nhưng các chính phủ có thé tang cường sức mạnh mềm thông qua việc kiểm soát và thay đôi chính sách ngoại giao của mình; 9) Sức mạnh mém có thê góp phan vào giải quyết mối đe dọa khủng bố hiện nay; 10) Nước Mỹ ngày càng đề cao sức mạnh mềm trong quan hệ quốc tế.
Nye: “Xét từ góc độ hành vi, sức mạnh mềm là sức hấp dẫn. Xét về nguồn lực, sức mạnh mềm là tài nguyên sản sinh ra sức hấp dẫn này”.