Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm liên quan 1. Sức khỏe Là trạng thái thoải mái hoàn toàn về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không chỉ là tình trạng không có bệnh hay thương tật [60] [61]. + Thoải mái về thể chất: cơ thể không chịu đựng một thiếu thốn gì, được phát triển và đạt những khả năng cao nhất.
+ Thoải mái về tâm thần: trí tuệ, trí nhớ, khả năng học nghề hoạt động tốt nhất, tâm lý được thăng bằng cho phép tìm được một dạng hạnh phúc nào đó. + Thoải mái xã hội: hoà hợp trong quan hệ gia đình, cộng đồng mà ta sống. Nâng cao sức khỏe Nâng cao sức khỏe là quá trình giúp cho con người kiểm soát sức khỏe và cải thiện sức khỏe của họ để đạt được trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất tinh thần và xã hội, mỗi cá thể có khả năng xác định và nhận biết những mong muốn của họ để thỏa mãn các nhu cầu và để thay đổi các hành vi không làm ảnh hưởng đến môi trường làm ảnh hưởng tới sức khỏe. Do đó sức khỏe phải được nhìn nhận là tài sản của cuộc sống hàng ngày chứ không phải là đối tượng của cuộc sống.
Công tác chăm sóc sức khỏe không chỉ thuộc phạm vi trách nhiệm của lĩnh vực y tế mà còn là việc phải xây dựng lối sống lành mạnh để có được hạnh phúc[42]. Bệnh nghề nghiệp Bệnh nghề nghiệp (BNN) là một hiện trạng bệnh lý mang tính chất đặc trưng nghề nghiệp hoặc liên quan đến nghề nghiệp mà nguyên nhân sinh bệnh do tác hại thường xuyên và kéo dài của điều kiện lao động xấu. Và hiện nay ở Việt Nam đã có 30 BNN được bảo hiểm[45]. Điều kiện lao động Điều kiện lao động (ĐKLĐ) là tổng thể các yếu tố về tự nhiên, xã hội, kinh tế, kỹ thuật được biểu hiện thông qua các công cụ và phương tiện lao động, đối tượng lao động, quá trình công nghệ, môi trường lao động và sự sắp xếp, bố trí chúng trong không gian và thời gian, sự tác động qua lại của chúng trong mối quan 5 hệ với người lao động tại chỗ làm việc, tạo nên một điều kiện nhất định cho con người trong quá trình lao động.
Tình trạng tâm sinh lý của con người trong khi lao động tại chỗ làm việc cũng được coi như một yếu tố gắn liền với điều kiện lao động[44]. Trong một ĐKLĐ cụ thể, bao giờ cũng xuất hiện những yếu tố vật chất ở một mức độ nhất định (vượt giới hạn cho phép) có ảnh hưởng xấu, có hại và nguy hiểm, có nguy cơ gây ra tai nạn lao động hoặc BNN cho người lao động. Và những yếu tố này được gọi là những yếu tố nguy hiểm và có hại. Các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sản xuất thường đa dạng và nhiều loại.
Đó có thể là: Các yếu tố vật lý (tiếng ồn, nhiệt độ ẩm, vận tốc gió, ánh sáng, phóng xạ.) Các yếu tố hoá học (hơi khí độc, bụi, hoá chất.) Các yếu tố sinh vật (vi khuẩn, nấm mốc, bào tử.) Các yếu tố bất lợi về tư thế lao động (cường độ, nhịp điệu lao động, mang vác nặng, vươn với ngoài tầm tay. Yếu tố nguy cơ, tác hại nghề nghiệp Yếu tố nguy cơ (YTNC) là một điều kiện hoặc tình trạng nguy hiểm hoặc có hại, có thể gây ra các nguy cơ cho sức khỏe con người nếu như có phơi nhiễm[54] Tác hại nghề nghiệp (THNN) là điều kiện hoặc tình trạng nguy hiểm hoặc có hại tại nơi làm việc, có thể gây ra các nguy cơ cho sức khỏe con người nếu như có phơi nhiễm. Tác hại nghề nghiệp chủ yếu trong sản xuất được chia thành 4 loại: Tác hại nghề nghiệp liên quan đến quá trình công nghệ sản xuất. Tác hại nghề nghiệp liên quan đến tổ chức lao động.
Tác hại nghề nghiệp liên quan đến điều kiện vệ sinh nơi làm việc. Tác hại nghề nghiệp liên quan đến tâm sinh lý người lao động[43] 1. Vi khí hậu môi trường lao động Vi khí hậu trong lao động sản xuất hay còn gọi là điều kiện khí tượng trong môi trường sản xuất bao gồm độ nóng, độ ẩm, tốc độ vận chuyển không khí, và đặc 6 biệt là bức xạ nhiệt ở môi trường lao động nóng. Điều kiện khí tượng đó có thể ảnh hưởng tới các quá trình sinh học trong điều kiện nhiệt độ của cơ thể và có thể gây bệnh tật cho người lao động khi mà các phản ứng sinh lý sinh hóa bị rối loạn[9].
Trong thực tế sản xuất điều kiện khí hậu khác thường như nóng quá hoặc lạnh quá đều có ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động, cụ thể sẽ ảnh hưởng đến cơ quan điều hòa thân nhiệt, quá trình sinh lý. Tuy vậy, điều kiện vi khí hậu nóng sẽ nguy hiểm hơn quá lạnh. Đặc điểm cơ bản của vi khí hậu nóng là vấn đề nhiệt độ và bức xạ lớn, vượt qua cảm giác dễ chịu của cơ thể, ảnh hưởng đến khả năng điều nhiệt của cơ thể. Ngoài ra, các yếu tố vi khí hậu khác như vận tốc gió, độ ẩm không khí, các yếu tố khác của môi trường cũng làm thay đổi sức nóng của môi trường.
Đôi khi vi khí hậu nóng có thể gây nên những rối loạn bệnh lý như say nóng, say nắng. Những yếu tố này có ảnh hưởng một cách phối hợp tới quá trình điều hòa thân nhiệt của cơ thể con người, tới sức khỏe và bệnh tật[27]. Nhiệt nóng Làm việc trong điều kiện vi khí hậu nóng, cơ thể tích lũy quá nhiều nhiệt NLĐ có thể bị say nóng, nặng hơn là choáng nhiệt. Choáng nhiệt thường do cơ thể làm việc cường độ nặng ở nơi nhiệt độ không khí rất cao, hoặc vừa nhiệt độ cao, vừa có bức xạ mặt Trời mạnh, độ ẩm không khí cao, kín gió, khi làm việc quá lâu dưới trời nắng, hoặc khi do quần áo mặc quá bức, không thoát được nhiệt và mồ hôi.
Ngoài những triệu chứng và biến chứng đặc hiệu, công nhân làm việc với điều kiện môi trường có nhiệt độ cao trong thời gian nhất định có thể mắc các bệnh như: Nhóm bệnh đường tiêu hóa như: rối loạn tiêu hóa, táo bón, viêm loét dạ dày – tá tràng, viêm ruột, viêm đại tràng mãn tính, trĩ. Các bệnh trên do ảnh hưởng của nhiệt độ không khí cao. 7 Nhóm bệnh thứ 2 liên quan đến nhiệt độ môi trường cao như nhóm bệnh ngoài da, cụ thể: da bị xây xước, dễ bị viêm và nhiễm trùng mủ. Các chấn thương do tai nạn lao động như bỏng da, chấn thương chân tay, chấn thương mắt… rất dễ xảy ra cho những nơi vừa có nhiệt độ cao vừa có cường độ lao động nặng nhọc.
Điều này có liên quan đến trạng thái thần kinh kém hưng phấn và mệt mỏi phát sinh ở người lao động do ảnh hưởng của nhiệt độ cao[2]. Yếu tố tâm sinh lý lao động và Éc-gô-nô-mi Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa Éc-gô-nô-mi là “Sự áp dụng khoa học sinh học kết hợp với khoa học công nghệ vào người lao động và môi trường của họ để được sự thỏa mãn tối đa cho người lao động đồng thời tăng năng suất lao động”. Éc-gô-nô-mi là khoa học nghiên cứu về lao động và sự phù hợp với sức khỏe người lao động. Như vậy mỗi loại hình lao động cần có một sự phù hợp tương ứng về sức khỏe con người.
Đề cập đến vấn đề thiết kế vị trí lao động, tư thế gò bó, thiết bị lao động, không gian làm việc, ca lao động…trong quá trình lao động mà người lao động tâm sinh lý không thoải mái có thể dẫn đến mất tập trung, sao nhãng, mệt mỏi gây tai nạn lao động. Tư thế lao động không phù hợp với máy móc hoặc phương thức, phương tiện lao động sẽ gây lên sự bất thường cho các hoạt động chức năng. Vì thế, các rối loạn bệnh lý dễ xảy ra hoặc quá trình mệt mỏi tế bào dễ đến sớm. Do yêu cầu của công nghệ và tổ chức lao động mà người lao động có thể phải lao động ở cường độ lao động quá mức theo ca, kíp, tư thế làm việc gò bó trong thời gian dài, động tác lao động đơn điệu buồn tẻ hoặc với trách nhiệm cao gây căng thẳng về thần kinh tâm lý, mệt mỏi[3] Mệt mỏi là trạng thái sinh lý tạm thời được coi như hiện tượng bắt đầu mất cân bằng các phản ứng sinh lý, sinh hóa của cơ thể trong lao động.
Song, nếu được nghỉ ngơi sẽ trở lại bình thường không để lại di chứng gì. Trạng thái mệt mỏi được biểu hiện bằng dấu hiệu khó chịu, uể oải, chức năng sinh lý mất cân bằng, năng suất lao động giảm dễ xảy ra tai nạn lao động[9]. Tiếng ồn 8 Tiếng ồn là âm thanh gây khó chịu cho con người, nó phát sinh do sự chuyển động của các chi tiết hoặc bộ phận của máy do va chạm. Rung sóc thường do các dụng cụ cầm tay bằng khí nén, do các động cơ nổ tạo ra.
Đây là yếu tố thường gặp phổ biến trong các ngành công nghiệp. Mức ảnh hưởng của tiếng ồn còn phụ thuộc vào cường độ và tần số của bản thân tiếng ồn và phụ thuộc vào thời gian tiếp xúc. Tiêu chuẩn giới hạn tối đa cho phép với tiếng ồn tại nơi sản xuất: Theo tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO (International Standard Organization) [1967] mức gây hại là: 90 ± 2,5 dB. Dựa vào đó, các nước xây dựng tiêu chuẩn giới hạn tối đa cho phép với tiếng ồn.
Giới hạn này ở các nước Đức, Hoa Kỳ là 90 dBA; ở Anh, Nga là 85 dBA[36]. Ở Việt Nam, mức tiếng ồn cho phép áp dụng cho 8 giờ làm việc/ ngày không vượt quá 85 dBA [33]. Người lao động làm việc trong điều kiện có tiếng ồn và rung sóc quá giới hạn cho phép dễ gây ảnh hưởng đến cơ quan thính giác, gây tác hại về thần kinh, các bệnh nghề nghiệp như: điếc, viêm thần kinh thực vật, rối loạn cảm giác, tổn thương về xương khớp và cơ; hoặc làm giảm khả năng tập trung trong lao động sản xuất, giảm khả năng nhạy bén. Người mệt mỏi, cáu gắt, buồn ngủ.
Tiếp xúc với tiếng ồn lâu sẽ bị giảm thính lực, điếc nghề nghiệp hoặc bệnh thần kinh. Hơn nữa, tình trạng này dễ dẫn đến tai nạn lao động[41].