phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, danh mục các bảng biểu, hình vẽ luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng với nội dung cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận, thực tiễn về dịch vụ chuyển tiền và sự hài lòng của khách hàng. Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Phân tích kết quả nghiên cứu Chƣơng 4: Hàm ý chính sách và kiến nghị 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Nguồn dữ liệu sơ cấp: Dữ liệu sơ cấp là dữ liệu mà nhà nghiên cứu thị trƣờng thu thập trực tiếp tại nguồn dữ liệu và xử lý nó để phục vụ cho việc nghiên cứu của mình. Nguồn tài liệu sơ cấp đƣợc sử dụng bao gồm: các báo thƣờng niên, báo cáo tài chính, báo cáo của phòng dịch vụ khách hàng, phòng kế toán, khối phát triển của BIDV ĐắkLắk cũng nhƣ các số liệu từ điều tra từ khách hàng.
Nguồn tài liệu thứ cấp: Dữ liệu thứ cấp có nguồn gốc từ nhứng tài liệu sơ cấp đã đƣợc phân tích, giải thích, thảo luận là nguồn dữ liệu đƣợc thu thập và xử lý cho mục tiêu nào đó, đƣợc các nhà nghiên cứu thị trƣờng sử dụng lại cho việc nghiên cứu của mình. Dữ liệu thứ cấp của luận văn đƣợc lấy là các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến quản trị quan hệ khách hàng nhƣ các luận án Tiến sĩ, luận văn, bài báo, báo cáo khoa học: Sử dụng chỉ số hài lòng của khách hàng (customer satisfaction index – CSI) trong hoạch định chiến lƣợc kinh doanh ngân hàng: Cách tiếp cận mô hình lý thuyết Lê Văn Huy. Tạp chí Khoa học công nghệ, Đại học Đà Nẵng, Số 2, 2007, nghiên cứu “Đo lƣờng mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ tiền gửi tại ngân hàng Á Châu chi nhánh Vạn Hạnh’’ của Phạm Thị Khánh Trang (2008), Luan van 4 Nghiên cứu “Sự hài lòng của khách hàng đối với ngân hàng Á Châu – khu vực Quảng Nam’’ của Lƣơng Tuấn Khải (2010). Luan van 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỊCH VỤ CHUYỂN TIỀN VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG 1.
DỊCH VỤ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm phổ biến, trong thời gian qua có rất nhiều khái niệm, cách nhìn nhận khác nhau về dịch vụ: Valarie A. Zeithaml và Mary J. Bitner (2000): “Dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”.
Theo Kotler & Armstrong (2004):“Dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng”. Theo Từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và đƣợc trả công [Từ điển Tiếng Việt, 2004, NXB Đà Nẵng, tr 256] Định nghĩa về dịch vụ trong kinh tế học đƣợc hiểu là những thứ tƣơng tự nhƣ hàng hoá nhƣng phi vật chất [Từ điển Wikipedia]. Theo quan điểm kinh tế học, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu nhƣ: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ.và mang lại lợi nhuận. Philip Kotler định nghĩa dịch vụ: Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu.
Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất. Luan van 6 Tóm lại, có nhiều khái niệm về dịch vụ đƣợc phát biểu dƣới những góc độ khác nhau nhƣng tựu chung thì: Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con ngƣời. Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) nhƣ hàng hoá nhƣng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội. Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ trong kinh tế học đƣợc hiểu là những thứ tƣơng tự nhƣ hàng hóa nhƣng là phi vật chất.
Có nhiều có cách nhìn nhận khác nhau nhƣng nhìn chung thì dịch vụ có một số đặc điểm sau: a. Tính vô hình: Sản phẩm của dịch vụ là thực thi. Khách hàng không thể thấy, nếm, sờ, ngửi… trƣớc khi mua. Khách hàng rất khó trong việc đƣa ra quyết định tiêu dùng dịch vụ; b.
Tính không đồng nhất: Không có chất lƣợng đồng nhất vì dịch vụ bắt nguồn từ sự khác nhau về tính chất tâm lý, trình độ của từng nhân viên, ngoài ra còn chịu sự đánh giá cảm tính của từng khách hàng, tại mỗi thời điểm khác nhau khách hàng có thể có những cảm nhận khác nhau về dịch vụ; c. Tính đồng thời, không thể chia tách: Quá trình cung ứng dịch vụ cũng là tiêu thụ dịch vụ nếu thiếu đi một trong hai bên thì không có hoạt động cung cấp dịch vụ. Tính không lưu trữ: Dịch vụ không thể tồn kho, không thể kiểm tra chất lƣợng trƣớc khi cung ứng, ngƣời cung cấp chỉ còn cách làm đúng từ đầu và làm đúng mọi lúc. Tính không thể hoàn trả: Nếu khách hàng không hài lòng, họ có thể đƣợc hoàn tiền nhƣng không thể hoàn dịch vụ.
Khái niệm về chất lƣợng dịch vụ Chất lƣợng dịch vụ là nhân tố tác động nhiều đến sự hài lòng của khách hàng. Nếu nhà cung cấp dịch vụ đem đến cho khách hàng những sản phẩm có Luan van 7 chất lƣợng thỏa mãn nhu cầu của họ thì Ngân hàng đó đã bƣớc đầu làm cho khách hàng hài lòng. Do đó, muốn nâng cao sự hài lòng của khách hàng, nhà cung cấp dịch vụ phải nâng cao chất lƣợng dịch vụ. Zeithaml (1987) giải thích: Chất lƣợng dich vụ là sự đánh giá của khách hàng về tính siêu việt và sự tuyệt vời nói chung của một thực thể.
Nó là một dạng của thái độ và các hệ quả từ một so sánh giữa những gì mong đợi đƣợc và nhận thức về những thứ ta nhận đƣợc. Lewis và Booms phát biểu: Dịch vụ là một sự đo lƣờng mức độ dich vụ đƣợc đƣa đến khách hàng tƣơng xứng với mong đợi của khách hàng. Việc tạo ra một dịch vụ chất lƣợng nghĩa là đáp ứng mong đợi khách hàng một cách đồng nhất. Theo Lehinen (1982): Chất lƣợng dịch vụ phải đƣợc đánh giá trên hai khía cạnh: (1) quá trình cung cấp dịch vụ, (2) kết quả dịch vụ.
Gronroos (1984) cũng đề nghị hai lĩnh vực của chất lƣợng dịch vụ: (1) chất lƣợng kỹ thuật và (2) chất lƣợng chức năng. Chất lƣợng kỹ thuật liên quan đến những gì đƣợc phục vụ và chất lƣợng chức năng nói lên chúng đƣợc phục vụ nhƣ thế nào (Nguyễn Đình Thọ, 2003) Paurasuraman V.L Berry thì định nghĩa chất lƣợng dịch vụ là khoảng cách mong đợi về sản phẩm dịch vụ của khách hàng và nhận thức, cảm nhận của họ khi sử dụng qua sản phẩm dịch vụ đó. Paurasuraman (1991) giải thích rằng để biết đƣợc sự dự đoán của khách hàng thì tốt nhất là nhận dạng và thấu hiểu những mong đợi của họ. Việc phát triển một hệ thống xác định nhũng mong đợi là cần thiết.
Và ngay sau đó ta có một chiến lƣợc chất lƣợng cho dịch vụ có hiệu quả. Đây có thể xem là khái niệm tổng quát nhất, bao hàm đầy đủ ý nghĩa của dịch vụ đứng trên quan điểm khách hàng, khách hàng là trung tâm. Luan van 8 Trong phạm vị nghiên cứu của đề tài này với quan điểm hƣớng về khách hàng thì chất lƣợng dịch vụ đồng nghĩa với việc đáp ứng mong đợi của khách hàng, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Do vậy chất lƣợng dịch vụ đƣợc xã định bởi khách hàng khi doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.
DỊCH VỤ CHUYỂN TIỀN 1. Khái niệm dịch vụ chuyển tiền Chuyển tiền là phƣơng thức thanh toán, trong đó khách hàng (ngƣời chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho ngƣời khác (ngƣời hƣởng lợi) theo một địa chỉ nhất định và trong một thời gian nhất định. Thanh toán là việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền hoặc chuyển tiền giữa các tổ chức cá nhân. Hoạt động thanh toán là việc mở tài khoản, thực hiện dịch vụ thanh toán của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và việc mở tài khoản, sử dụng dịch vụ thanh toán của ngƣời sử dụng dịch vụ thanh toán.Thanh toán có thể thực hiện dƣới hình thái vô cùng đơn giản, tồn tại duới dạng trao đỏi vật chất nhƣ hàng đổi hàng, chi trả bằng tiền mặt và cho đến nay ngƣời ta có thể thực hiện dịch vụ thanh toán hoàn toàn phi vật chất: thanh toán điện tử.
Thanh toán điện tử đƣợc thực hiện thông qua các ngân hàng, các ngân hàng cung ứng các phƣơng tiện thanh toán, thực hiện các giao dịch thanh toán trong và quốc tế, thực hiện thu hộ, chi hộ và các loại dịch vụ khác theo yêu cầu của ngƣời thực hiện dịch vụ thanh toán. Khái niệm dịch vụ chuyển tiền Chuyển tiền là phƣơng thức thanh toán, trong đó khách hàng (ngƣời chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho ngƣời khác (ngƣời hƣởng lợi) theo một địa chỉ nhất định và trong một thời gian nhất định. Luan van 9 Thanh toán là việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền hoặc chuyển tiền giữa các tổ chức cá nhân. Hoạt động thanh toán là việc mở tài khoản, thực hiện dịch vụ thanh toán của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và việc mở tài khoản, sử dụng dịch vụ thanh toán của ngƣời sử dụng dịch vụ thanh toán.Thanh toán có thể thực hiện dƣới hình thái vô cùng đơn giản, tồn tại duới dạng trao đỏi vật chất nhƣ hàng đổi hàng, chi trả bằng tiền mặt và cho đến nay ngƣời ta có thể thực hiện dịch vụ thanh toán hoàn toàn phi vật chất: thanh toán điện tử.
Thanh toán điện tử đƣợc thực hiện thông qua các ngân hàng, các ngân hàng cung ứng các phƣơng tiện thanh toán, thực hiện các giao dịch thanh toán trong và quốc tế, thực hiện thu hộ, chi hộ và các loại dịch vụ khác theo yêu cầu của ngƣời thực hiện dịch vụ thanh toán. Đặc điểm của dịch vụ chuyển tiền - Chuyển tiền là phƣơng thức đơn giản. - Ngƣời chuyển tiền và ngƣời nhận tiền tiến hành thanh toán trực tiếp với nhau. - Ngân hàng chuyển tiền là ngƣời trung gian thanh toán theo ủy nhiệm để hƣởng hoa hồng và không có trách nhiệm ràng buộc với hai bên.
- Việc thanh toán phụ thuộc vào thiện chí của ngƣời mua. Nên nó thƣờng đƣợc sử dụng khi hai bên tin cậy nhau.