Chương 1: Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu; Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và quy trình thực nghiệm; Chương 3: Kết quả và thảo luận. TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về tình hình ô nhiễm amoni trong nước và nước thải 1.1 Một số đặc tính của ion amoni Cation amoni là một ion tích điện dương với công thức hóa học NH4+. Các phân tử không bằng phẳng, bốn nguyên tử hidro tạo thành bốn góc của hình tứ diện. Ion amoni có trọng lượng phân tử 18,039 g/mol và độ hòa tan 10,2 mg/ml nước.
Trong nước amoni tồn tại ở dạng ion và không ion. NH3 + H2 O NH4+ + OH– (1.1 Cấu trúc phân tử của ion amoni Mức độ amoniac tạo thành ion amoni phụ thuộc vào độ pH của dung dịch được thể hiện trên hình 1. Nếu pH < 9,25 trạng thái cân bằng theo phương trình 1.1 sẽ dịch chuyển sang phải: nhiều phân tử amoniac được chuyển đổi thành các ion amoni. Nếu pH > 9,25 (nồng độ của các ion hydro thấp), trạng thái cân bằng của phương trình (1.1) sẽ dịch chuyển sang trái, ion amoni được chuyển đổi thành amoniac [10].
4 NH3 NH4+ 100 100 80 80 NH3 (%) NH4 + (%) 60 60 40 40 20 20 0 0 5 6 7 8 9 10 11 12 13 pH Hình 1.2 Ảnh hưởng của pH đến sự tồn tại của ion amoni và ammoniac [10] Amoni được tìm thấy trong một loạt các muối như amoni cacbonat, amoni clorua, và amoni nitrat. Hầu hết các muối amoni đơn giản đều hòa tan trong nước. Một ngoại lệ là hexanochloroplatinat amon (NH 4)2PtCl6 không tan trong nước.2 Nguyên nhân và hiện trạng ô nhiễm amoni trong nước Nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm amoni trong nước do nguồn tự nhiên và nguồn nhân tạo, trong đó, nguồn nhân tạo là nguồn xâm nhập đáng kể. * Nguồn tự nhiên: Nguồn gây ô nhiễm amoni từ tự nhiên do cấu tạo địa chất.
Kết quả của những hoạt động địa chất (xói mòn, xâm thực,…) đã hình thành nên tầng chứa nước cuội sỏi Đệ Tứ. Trong tầng này đều chứa các hạt than bùn, đất có lẫn các hợp chất hữu cơ. Khi quá trình khai thác nước ngày càng mở rộng đã kéo theo và giải phóng các hợp chất của nitơ có trong lớp đất bùn chứa chất hữu cơ bị phân hủy, dẫn đến hàm lượng nitơ trong nước tăng lên. Quá trình amôn hóa: Các hợp chất nitơ hữu cơ trong môi trường đất, nước xảy ra quá trình khoáng hóa tạo thành NH4+.
Ở những nơi có địa hình dốc lớn, khi mưa xuống tạo thành cường độ dòng chảy mạnh làm tăng hàm lượng ô nhiễm ở những vùng có độ dốc thấp, trũng và tăng khả năng xâm nhập vào nước ngầm. 5 * Nguồn nhân tạo: Nguyên nhân ô nhiễm do nguồn ô nhiễm phía trên mặt đất. Đó là các nguồn chất thải mà trong đó cả nước thải sản xuất và nước thải sinh hoạt đều chứa chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học, nước thải có chứa nhiều hợp chất nitơ hòa tan; quá trình thối rữa, phân hủy phân hữu cơ của các hệ thống vệ sinh, chuồng trại, canh tác nông nghiệp, rác thải sinh hoạt,. Tình trạng khai thác nước ngầm với khối lượng lớn dẫn đến cần bổ sung một lượng nước mới dẫn đến quá trình xâm thực tự nhiên xảy ra, nước mặt chứa các hợp chất nitơ thấm xuống dẫn đến làm tăng nồng độ amoni trong nước ngầm.
* Ô nhiễm amoni trong nước mặt Hiện nay tình trạng nguồn nước mặt nhiễm NH4+ là phổ biến do chịu ảnh hưởng của các nguồn khác nhau từ hoạt động động sinh hoạt, sản xuất của con người. Nhiều nơi đã ghi nhận hàm lượng NH4+ vượt tiêu chuẩn QCVN 09:2008/BTNMT nhiều lần, trong đó tập trung ở 2 thành phố lớn là Hà Nội và Hồ Chí Minh (hình 1. Một số sông, ngòi, kênh,.vùng nông thôn gần hoạt động chăn nuôi, làng nghề, cơ sở nuôi tôm cũng có dấu hiệu ô nhiễm NH 4+. Theo kết quả phân tích mẫu nước tại suối Bến Cao và suối Ngòi Mà thuộc huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên có chỉ tiêu NH 4+ vượt 29 lần so với QCVN 08:2008/BTNMT cột B1.
Tại tỉnh Cà Mau, số liệu giám sát chất lượng môi trường nước ở 27 điểm nông thôn trên địa bàn tỉnh cho thấy 100% mẫu nước mặt có hàm lượng NH 4+ vượt quy chuẩn QCVN 08:2008 cột A1, một số điểm còn vượt QCVN 08:2008 cột B1 [11]. Nguồn nước mặt tại một số làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm cũng có hàm lượng NH4+ cao, cụ thể như tại làng nghề nấu rượu Bầu Đá (thôn Cù Lâm, xã Nhơn Lộc, huyện An Nhơn) có hàm lượng NH 4+ vượt 9,2 lần tiêu chuẩn. Chất lượng môi trường nước mặt của một số địa phương gần cơ sở nuôi tôm của tỉnh Bình Định như Xã Mỹ Đức, xã Hòa Mỹ chỉ tiêu NH4+ vượt 4 - 4,5 lần quy chuẩn cho phép [11]. 6 2012 2013 2014 2015 2016 QCVN 08:2015/BTNMT (Cột B1 &B2) 25 20 15 10 5 0 Sông Tô Lịch Sông Lừ Sông Sét Kênh Tàu Hũ - Kênh Tân Hóa - Kênh Ba Bò Bến Nghé Lò Gốm Hình 1.3 Diễn biến hàm lượng amoni tại một số sông, kênh, mương nội thành ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2012-2016 [12] * Ô nhiễm amoni trong nước ngầm Ở Việt Nam, nguồn nước chính để cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất cho người dân là từ nước ngầm.
Theo số liệu thống kê năm 2015 của Cục quản lý tài nguyên nước, Bộ Tài Nguyên và Môi trường, khoảng 40% lượng nước cấp cho đô thị và gần 80% lượng nước sử dụng cho sinh hoạt ở nông thôn được khai thác từ nước ngầm. Theo báo cáo này, chất lượng nước ngầm đang xuất hiện tình trạng ô nhiễm cục bộ, trong đó phát hiện hàm lượng NH 4+ vượt tiêu chuẩn cho phép [12]. Hiện nay, hầu như các địa phương trên cả nước đều phát hiện thấy sự ô nhiễm amoni trong nước ngầm ở mức độ khác nhau (hình 1. Tại Hà Nội, đồng bằng Bắc Bộ, một số tỉnh đồng bằng Nam Bộ, thành phố Hồ Chí Minh, amoni đã vượt ngưỡng cho phép nhiều lần.
Chỉ có khu vực Tây nguyên, nguồn nước chưa có dấu hiệu ô nhiễm amoni. Các điểm quan trắc phát hiện hàm lượng amoni cao nhất ở miền Bắc thuộc các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, xác suất các nguồn nước ngầm nhiễm amoni ở nồng độ cao hơn tiêu chuẩn (3 mg/l, QCVN 02:2009/BYT) là khoảng 70 - 80% [13]. Các điểm quan trắc tại huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam có tỷ lệ nhiễm amoni ở mức đáng báo động, hàm lượng amoni lên tới 111,8 mg/l gấp 74 lần, tại huyện Duy Tiên là 93,8 mg/L gấp 63 lần so với tiêu chuẩn Bộ Y tế, các huyện còn lại như Bình Lục, Thanh Liêm, Kim Bảng có hàm lượng amoni vượt trên 33 lần tiêu chuẩn [14, 15].Long Long Phả Bình Ninh Bình Hới Khánh Hình 1.4 Hàm lượng amoni trong nước dưới đất tại một số địa phương giai đoạn 2011-2014 [16] Tại thành phố Hồ Chí Minh, theo Chi cục bảo vệ môi trường thành phố Hồ Chí Minh, kết quả quan trắc nước ngầm tầng nông gần đây cho thấy lượng nước ngầm ở khu vực ngoại thành đang diễn biến ngày càng xấu đi. Cụ thể nước ngầm ở trạm Đông Thạch (huyện Hóc Môn) bị ô nhiễm amoni (68,73 mg/L cao gấp 1,9 lần so với năm 2005).
Ngoài ra, nước có hàm lượng nhôm cao, độ mặn tăng và mức độ ô mhiễm chất hữu cơ cũng tăng nhanh trong những năm gần đây; nồng độ sắt trong nước ngầm của một số khu vực khác như Linh Trung, Trường Thọ (Thủ Đức), Tân Tạo (Bình Chánh),…cũng khá cao (11,76 đến 27,83 mg/l) vượt tiêu chuẩn cho phép gần 50 lần [17]. *) ô nhiễm amoni trong nước thải Nguồn nước thải khác nhau bị ô nhiễm amoni ở mức độ khác nhau, mức độ ô nhiễm amoni phụ thuộc vào loại nước thải: sinh hoạt, đô thị, công nghiệp, nông nghiệp, bảng 1.1 thể hiện nồng độ amoni trong một số loại nước thải. Nước thải sinh hoạt: là nước thải từ các khu dân cư, các cơ sở hoạt động thương mại xã hội như công sở, trường học… Nước thải đô thị: là nước thải trong hệ thống thoát nước của thành phố, một khu đô thị. Trong nước thải đô thị ngoài nước thải sinh hoạt còn có thể có nước thải của một số nước thải của một số cơ sở sản xuất công nghiệp, nước thải bệnh viện, trạm y tế.
8 Nước thải công nghiệp: Là nước thải từ các nhà máy, xí nghiệp sản xuất hoặc từ các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp đang hoạt động. Các tạp chất trong nước thải công nghiệp rất đa dạng, phức tạp tùy thuộc vào đặc thù của sản xuất như nguyên liệu sử dụng, các quy trình sản xuất, các biện pháp kỹ thuật được áp dụng… Nước thải nông nghiệp: Là loại nước thải trong quá trình sản xuất nông nghiệp. Tạp chất chủ yếu có trong nước thải nông nghiệp là các loại phân bón vô cơ, hữu cơ, các hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, các chất kích thích sinh trưởng dư thừa hoặc bị rửa trôi. Hàm lượng các tạp chất phụ thuộc vào chế độ canh tác, mùa vụ sản xuất.
Nông nghiệp hiện đại là nguồn ô nhiễm lớn cho nước. Việc sử dụng phân bón hóa học chứa nitơ với số lượng lớn, thành phần không hợp lí, sử dụng bừa bãi thuốc trừ sâu, diệt cỏ…. thông qua quá trình rửa trôi, thấm lọc lượng nitrat hóa, amoni trong nước bề mặt và nước ngầm ngày càng cao.1 Nồng độ amoni trong một số loại nước thải [53, 54] STT Loại nước thải NH4+-N (mg/L) 1 Nước thải sinh hoạt 10÷80 2 Nước thải đô thị 5÷20 3 Nước thải công nghiệp 5÷60 4 Nước thải nông nghiệp 5÷20 5 Nước thải y tế 15÷30 1.3 Ảnh hưởng của ô nhiễm amoni đến môi trường và con người Amoni thực ra không quá độc đối với con người. Ở trong nước ngầm, amoni không thể chuyển hóa được do thiếu oxi.
Nhưng khi khai thác lên, vi sinh vật trong nước nhờ oxi trong không khí chuyển amoni thành các nitrit ( NO2-), và nitrat (NO3- ) tích tụ trong nước ăn. Các hợp chất chứa nitơ trong nước có thể gây nên một số bệnh nguy hiểm cho cơ thể người sử dụng nước. Amoni có mặt trong nước làm giảm hiệu quả của khâu khử trùng bằng clo, do nó phản ứng với clo để tạo thành các cloramin, có tác dụng sát khuẩn yếu hơn nhiều so với clo (khoảng 1000 lần). Ngoài ra, nó còn làm giảm khả năng xử lý sắt, mangan bằng công nghệ truyền thống [18].