CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm liên quan đến nghiên cứu 1. Chất kích thích dạng Amphetamine UNODC đã định nghĩa ATS là một nhóm thuốc kích thích tác động tới hệ thống thần kinh trung ương bao gồm amphetamine, methamphetamine, methcathinone, và ‘ecstasy’ ( MDMA và các dẫn suất của nó) [44]. Nghiên cứu này chỉ tập trung tìm hiểu về 3 loại ATS phổ biến tại Việt Nam đó là thuốc lắc (ecstasy), đá (methamphetamine dạng tinh thể) và hồng phiến (methamphetamine dạng viên), theo điều tra của UNODC tại Việt Nam năm 2010 [43].
Những ảnh hưởng của việc sử dụng ATS ATS là nhóm chất kích thích tác động đến hệ thống thần kinh trung ương, gây giải phóng một lượng lớn dẫn truyền thần kinh làm tăng nhịp tim và huyết áp, tạo ra cảm giác vui vẻ, sự tự tin, tăng năng lượng và sự tỉnh táo, giảm cảm giác thèm ăn và tăng ham muốn tình dục. Người sử dụng ATS có thể thấy mất ngủ, nói nhiều hơn, nghiến răng, tăng nhiệt độ cơ thể, có các hành vi mất kiểm soát. Nếu sử dụng ATS lâu dài có thể dẫn đến những triệu chứng như răng bị hư hỏng, giảm cân, tổn thương da, đột quỵ và nhồi máu cơ tim, cũng như là những ảnh hưởng tới sức khỏe tâm thần (hoang tưởng, ảo giác, lo âu và kích thích), các triệu chứng về hành vi (hung hăng, bạo lực, cô lập). Ngoài ra, việc sử dụng ATS lâu dài có thể dẫn tới việc giảm lượng dopamine làm cho người sử dụng ATS thèm sử dụng ATS để tăng lượng dopamine khi hết tác dụng của thuốc.
Việc giảm các dẫn truyền thần kinh đột ngột làm cho người sử dụng có triệu chứng buồn bã, trầm cảm, do vậy liều bổ sung ATS thường được sử dụng để làm giảm bớt các cảm xúc tiêu cực, chu kỳ này có thể dẫn đến việc nghiện ATS [14]. Hơn thế nữa, do tính chất kích thích, đặc biệt là tính chất kích thích tình dục, cho nên người sử dụng kh kiểm soát hành vi QHTD an toàn, tăng số lượng bạn tình, 5 làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV/STIs. Các nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa hành vi sử dụng ATS và nguy cơ lây nhiễm HIV/STIs, đặc biệt ở các nhóm nguy cơ cao trong cộng đồng [22, 33, 37, 38]. Định nghĩa và phân loại phụ nữ mại dâm Theo báo cáo điều tra kết hợp hành vi và chỉ số sinh học (IBBS) 2006, phụ nữ mại dâm (PNMD) là nữ giới có quan hệ tình dục bằng đường âm đạo hoặc đường hậu môn với nam giới với mục đích lấy tiền hoặc hiện vật [9].
Trong nghiên cứu này, phụ nữ mại dâm sẽ được phân loại thành hai nhóm chính căn cứ theo đặc điểm và tính chất công việc, gồm: mại dâm đường phố (MDĐP) – nơi gặp khách hàng chủ yếu trên các đường phố, công viên và mại dâm nhà hàng (MDNH) – nơi gặp khách chủ yếu trong các tụ điểm như quán karaoke, các điểm massage. Hai nhóm trên có sự khác nhau cơ bản về nơi làm việc và kinh tế, MDĐP đa phần lớn tuổi hơn, bị coi là kém hấp dẫn hơn và có thu nhập thấp hơn so với nhóm MDNH [10]. Tình hình mại dâm tại Việt Nam Theo báo cáo Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Chương trình phòng, chống mại dâm giai đoạn 2006 – 2010 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, năm 2010 cả nước ước tính có gần 31. Tuy nhiên, con số này trên thực tế còn cao hơn rất nhiều do tính chất di biến động và trá hình của hoạt động mại dâm tại Việt Nam.
Ngoài ra, báo cáo trên cũng cho biết xu hướng tập trung cao của PNMD tại một số thành phố sầm uất đông dân cư và các khu du lịch như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Cần Thơ…[1, 2]. PNMD tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng đang có xu hướng trẻ hóa, tuổi hành nghề lần đầu đều giảm dần trong cả hai nhóm MDĐP và MDNH. Trong khi đó, kết quả điều tra hai vòng của IBBS năm 2006 và 2009 đã cho thấy một sự gia tăng đáng kể về số khách trung bình trong 1 tuần trước cuộc điều tra của cả phụ nữ MDĐP và MDNH tại Hà Nội (tăng từ 5,63 lên 7,0 khách/tuần đối với MDĐP; và từ 5,23 lên 6 6,8 khách/tuần đối với MDNH). Trong nhóm PNMD, hành vi chính liên quan tới nhiễm HIV bao gồm tiêm chích ma túy và sử dụng BCS không thường xuyên.
Hành vi sử dụng BCS không thường xuyên có xu hướng gia tăng tại Hà Nội. Nếu như tỷ lệ sử dụng BCS không thường xuyên trong nhóm PNMD tại Hà Nội năm 2006 chỉ là 28,3%, thì năm 2009 tỷ lệ này đã tăng lên 68,7%. Tỷ lệ sử dụng ma túy trong nhóm PNMD tại Việt Nam cao, dao động trong khoảng 27-46% PNMD được điều tra báo cáo có sử dụng ma túy. Các phát hiện này cho thấy sự cần thiết của việc mở rộng chương trình giảm tác hại trong nhóm PNMD có sử dụng ma túy [7].
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm PNMD tại Việt Nam được ước tính ở mức 2% đến 29%, MDNH thường có tỷ lệ hiện nhiễm HIV thấp hơn MDĐP [7]. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm PNMD tại Hà Nội năm 2009 có xu hướng tăng lên so với năm 2006, lần lượt là 19,7% đối với MDĐP và 17,7% đối với MDNH, cao nhất trong 11 tỉnh/thành phố được điều tra [10, 11]. Số liệu trên đã phần nào phản ánh mức độ nhạy cảm và nguy cơ nhiễm HIV/AIDS của nhóm đối tượng PNMD tại Hà Nội. Tổng quan các nghiên cứu về ATS trong nhóm PNMD 1.
Thực trạng sử dụng ATS trong nhóm PNMD 1. Thực trạng sử dụng ATS trong nhóm PNMD trên thế giới Hầu hết các nghiên cứu về ATS trên thế giới tập trung ở nhóm MSM. Một vài nghiên cứu trong nhóm PNMD cho thấy tỷ lệ đã từng sử dụng ATS khá cao, tỷ lệ sử dụng trong một nghiên cứu sử dụng bộ số liệu từ một nghiên cứu thuần tập tại Canada do Shannon và cộng sự tiến hành trên 255 MDĐP trên 14 tuổi có sử dụng ma túy năm 2011, cho kết quả có tới 78 đối tượng (chiếm 32%) báo cáo có sử dụng đá [38]. Tại Phnom Penh năm 2012, nghiên cứu thuần tập tiến hành trong một năm ở nhóm PNMD trẻ tuổi (15 đến 29 tuổi), có hành vi trao đổi tình dục để lấy tiền hoặc hiện vật trong 3 tháng trước cuộc điều tra.
Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện thông qua các nhân viên tiếp cận cộng đồng, các cuộc họp của nghiên cứu sức khỏe phụ nữ, 7 hoặc được giới thiệu bởi các phụ nữ đã từng tham gia vào nghiên cứu. Kết quả cho thấy tỷ lệ đã từng sử dụng ATS là 42,5%. Tỷ lệ sử dụng trong nhóm MDĐP (35,6%) cao hơn trong nhóm MDNH (17,7%) hoặc các chị em đón khách tại nhiều tụ điểm khác nhau (14,8%). Loại ATS được sử dụng phổ biến là hồng phiến (40,6%), tiếp theo đến ma túy đá (23,1%) [16].
Tuy nhiên, trong báo cáo của UNODC năm 2012 lại cho thấy trong những năm gần đây ma túy đá được sử dụng phổ biến nhất hiện nay [45]. Cách sử dụng ATS khác nhau theo từng vùng miền, hồng phiến và đá chủ yếu được sử dụng qua đường hút hoặc tiêm, số ít sử dụng qua đường uống [26, 37]. Về thời điểm sử dụng ATS, 76% PNMD đã từng sử dụng ATS trong nhóm nghiên cứu tại Canada báo cáo họ thường sử dụng ATS trước khi đi tiếp khách [38]. Tuy nhiên trong nghiên cứu định tính, phỏng vấn sâu 33 PNMD tại Phnom Penh của Maher và cộng sự năm 2011, thời điểm sử dụng ATS đa dạng hơn, một số chị em cho biết họ thường sử dụng ATS trước khi đi tiếp khách để có thể tính táo hơn, không bị buồn ngủ, có thể tiếp được nhiều khách hơn, một số khác lại cho biết họ thường sử dụng thuốc lắc trong khi tiếp khách để có thể trở nên quyến rũ, thân thiện hơn với khách hàng.
Rượu/bia là chất thường được sử dụng kèm với ATS, đặc biệt đối với thuốc lắc tại các quán bar/vũ trường/karaoke nơi có nhạc sôi động [12, 27, 29]. Ngoài ra, các nghiên cứu này cũng cho thấy vệc sử dụng ATS rất phổ biến trong nhóm khách mua dâm, có sự trao đổi về ma túy và tình dục giữa PNMD và khách hàng của họ [29]. Về tần suất sử dụng trong 90 ngày trước điều tra, một nghiên cứu được thực hiện trên 98 phụ nữ sử dụng loại chất kích thích dạng methamphetamine ở San Diego vào năm 2004 cho thấy, tần suất sử dụng methamphetamine trong vòng 30 ngày trước điều tra khoảng 2 lần/tháng [37]. Tại Úc, nghiên cứu thuần tập được tiến hành trên 1.427 MSM không nhiễm HIV, trong đó có 28,4% sử dụng với tần suất ít hơn 1 tháng 1 lần, 23,1% sử dụng với tần suất 1 tháng 1 lần, 7,2% sử dụng với tần suất 1 tuần 1 lần [34].
Nghiên cứu cắt ngang của Martin và cộng sự trên nhóm thành niên trẻ tuổi tại Thái Lan vào năm 2001 có cỡ mẫu 1.725 học sinh từ 15-21 tuổi đưa ra kết quả về tỷ lệ sử dụng methamphetamine ở nam giới là 41,3% và 19% ở nữ giới. Tần suất sử dụng 8 trong 3 tháng trước khi nghiên cứu triển khai rất đa dạng, trong tổng số 500 học sinh báo cáo đã từng sử dụng methamphetamine, 23,4% không sử dụng, 62,8% sử dụng 10 lần hoặc ít hơn, 13,8% sử dụng nhiều hơn 10 lần trong 3 tháng trước cuộc điều tra [40]. Thực trạng sử dụng ATS trong nhóm PNMD tại Việt Nam Tại Việt Nam, có rất ít các nghiên cứu tìm hiểu về hành vi sử dụng ATS trong nhóm PNMD được báo cáo. Theo báo cáo kết quả của cuộc điều tra năm 2010 do UNODC thực hiện trên một số nhóm đối tượng nguy cơ tại ba khu vực lớn gồm Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh, trong tổng số 270 PNMD tham gia cuộc điều tra, 21,4% báo cáo có sử dụng Methamphetamine, 54,4% sử dụng Ecstasy/thuốc lắc, và phổ biến nhất là ma túy đá với tỷ lệ sử dụng ở mức 57,8%.
So với PNMD tại Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh, PNMD tại Hà Nội có xu hướng sử dụng hồng phiến nhiều hơn, tuy nhiên tỷ lệ này vẫn thấp hơn đáng kể so với tỷ lệ sử dụng thuốc lắc và đá tại đây. Tuổi bắt đầu sử dụng ATS của các đối tượng dao động trong khoảng 20-23 tuổi, trong đó, thuốc lắc và hồng phiến có xu hướng được sử dụng sớm hơn đá. Có 80% PNMD được điều tra cho biết lần đầu sử dụng ATS của họ là dùng chung với từ 3-4 người bạn (thường là cùng trong nhóm ATS với họ).