Luận văn: Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển giống sắn tại Thái Nguyên 2018 - Dương Xuân Hoàng

Nghiên cứu chi tiết khả năng sinh trưởng và phát triển của cây sắn tại Thái Nguyên năm 2018. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất cây trồng.

Chuyên ngành

Khoa học cây trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2019

62
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu sinh trưởng sắn tại Thái Nguyên

Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của tập đoàn giống sắn tại Thái Nguyên năm 2018 là đề tài khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Dương Xuân Hoàng, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên. Đề tài được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Viết Hưng, thuộc chuyên ngành Khoa học cây trồng. Thái Nguyên là vùng đất có tiềm năng lớn cho phát triển cây sắn. Tuy nhiên, việc lựa chọn giống sắn phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu địa phương vẫn là thách thức. Nghiên cứu nhằm đánh giá toàn diện các đặc điểm sinh trưởng, năng suất và chất lượng của nhiều dòng giống sắn khác nhau. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc khuyến nông và phát triển sản xuất sắn bền vững tại tỉnh Thái Nguyên.

1.1. Mục tiêu của nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của tập đoàn giống sắn tại Thái Nguyên. Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm tỷ lệ mọc mầm, tốc độ tăng trưởng chiều cao cây, tốc độ ra lá, tuổi thọ lá và các đặc điểm hình thái. Đồng thời, nghiên cứu đo lường các yếu tố cấu thành năng suất như số củ/cây, trọng lượng củ, tỷ lệ chất khô và năng suất tinh bột. Mục tiêu cuối cùng là lựa chọn giống sắn có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện canh tác tại Thái Nguyên.

1.2. Vị trí và ý nghĩa của cây sắn tại Thái Nguyên

Sắn là cây công nghiệp quan trọng tại Thái Nguyên, đóng vai trò lớn trong đời sống kinh tế nông dân. Thống kê giai đoạn 2012-2017 cho thấy sản lượng sắn tại Thái Nguyên có xu hướng tăng trưởng ổn định. Tỉnh có diện tích đất trồng sắn đáng kể, tập trung ở các huyện miền núi. Cây sắn cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến tinh bột, thức ăn chăn nuôi và xuất khẩu. Tuy nhiên, năng suất sắn tại Thái Nguyên còn thấp so với tiềm năng. Việc nghiên cứu và đưa vào sản xuất các giống sắn mới có năng suất cao là giải pháp then chốt để nâng cao giá trị kinh tế cây trồng này.

II. Phân tích đặc điểm sinh trưởng và phát triển giống sắn

Kết quả thí nghiệm cho thấy sự khác biệt rõ rệt về đặc điểm sinh trưởng giữa các dòng giống sắn tham gia nghiên cứu. Tỷ lệ mọc mầm của các giống dao động đáng kể, phản ánh khả năng thích ứng khác nhau với điều kiện thổ nhưỡng Thái Nguyên. Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây được đo định kỳ 15 ngày một lần, cho thấy giai đoạn sinh trưởng mạnh nhất rơi vào những tháng có điều kiện nhiệt độ và ẩm độ thuận lợi. Tốc độ ra lá cũng là chỉ tiêu quan trọng đánh giá sức sống cây trồng. Tuổi thọ lá ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng quang hợp và tích lũy chất hữu cơ. Các đặc điểm hình thái như màu lá, màu ngọn lá, dạng phiến lá cũng được ghi nhận đầy đủ. Đường kính gốc và chiều cao phân cành là hai tính trạng có ý nghĩa trong chọn lọc giống.

2.1. Tỷ lệ mọc mầm và tốc độ tăng trưởng chiều cao

Tỷ lệ mọc mầm là chỉ tiêu đầu tiên đánh giá khả năng sinh trưởng của giống sắn. Kết quả thí nghiệm ghi nhận sự biến đổi lớn giữa các dòng giống. Một số giống có tỷ lệ mọc mầm cao, cho thấy khả năng thích ứng tốt với điều kiện đất đai và khí hậu Thái Nguyên. Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây được đo bằng phương pháp cố định cây bằng cọc tre, đo 5 cây giữa hàng mỗi 15 ngày. Dữ liệu cho thấy cây sắn tăng trưởng mạnh trong giai đoạn giữa vụ. Hai tính trạng này có thể cải thiện đáng kể nhờ vào chọn lọc giống phù hợp.

2.2. Tốc độ ra lá và tuổi thọ lá của các giống sắn

Tốc độ ra lá được xác định bằng phương pháp đánh dấu lá non, đo 15 ngày một lần trên 5 cây cố định giữa hàng. Kết quả cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các dòng giống sắn thí nghiệm. Tuổi thọ lá được theo dõi bằng cách đánh dấu lá non khi hình thành đầy đủ đến khi lá chuyển sang màu vàng. Chỉ tiêu này phản ánh khả năng duy trì hoạt động quang hợp của cây. Giống có tuổi thọ lá dài thường tích lũy được nhiều chất hữu cơ hơn, góp phần nâng cao năng suất củ. Đây là cơ sở quan trọng để đánh giá tiềm năng sản xuất của từng giống.

III. Phương pháp đánh giá năng suất và chất lượng sắn

Phương pháp nghiên cứu được tiến hành theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 01-61:2011/BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn với 3 lần lặp. Các yếu tố cấu thành năng suất được đo lường cẩn thận bao gồm số củ trên mỗi cây, trọng lượng củ tươi và tỷ lệ chất khô. Năng suất củ tươi được tính bằng cách thu hoạch toàn bộ củ trong ô thí nghiệm, quy đổi ra tấn trên hecta. Năng suất củ khô được xác định dựa trên năng suất củ tươi và tỷ lệ chất khô. Năng suất tinh bột là chỉ tiêu kinh tế quan trọng nhất, quyết định giá trị thương phẩm của sản phẩm. Kết quả cho thấy biến động lớn về năng suất giữa các giống, dao động từ 5,6 đến 14,0 tấn củ khô mỗi hecta.

3.1. Các yếu tố cấu thành năng suất củ sắn

Năng suất củ sắn được quyết định bởi nhiều yếu tố cấu thành. Số củ trên mỗi cây phản ánh khả năng phân nhánh và tạo củ. Trọng lượng củ trung bình phụ thuộc vào quá trình tích lũy tinh bột trong thời kỳ sinh trưởng. Tỷ lệ chất khô là chỉ tiêu chất lượng quan trọng, biến động từ 31,4% đến 38,7% trong thí nghiệm. Trong đó, giống sắn cao sản 2 đạt tỷ lệ chất khô vượt trội 38,7%. Năng suất sinh vật học bao gồm cả phần thân lá, cho thấy tổng khả năng sản xuất của cây. Việc nâng cao đồng thời các yếu tố cấu thành là mục tiêu của công tác chọn tạo giống.

3.2. Đánh giá năng suất và chất lượng các giống sắn thí nghiệm

Năng suất củ tươi và năng suất củ khô là hai chỉ tiêu chính để đánh giá hiệu quả sản xuất. Kết quả thí nghiệm cho thấy năng suất củ khô dao động từ 5,6 đến 14,0 tấn/ha. Nhóm giống đạt năng suất cao trên 10 tấn/ha bao gồm nhiều triển vọng cho sản xuất thương phẩm. Nhóm giống có năng suất thấp dưới 10 tấn/ha cần được cải thiện hoặc thay thế. Năng suất tinh bột được tính dựa trên năng suất củ khô và tỷ lệ tinh bột. Chất lượng củ sắn được đánh giá qua màu sắc, dạng củ và hàm lượng tinh bột. Kết quả là cơ sở để lựa chọn giống phù hợp cho vùng Thái Nguyên.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu sắn tại Thái Nguyên

Nghiên cứu đã hoàn thành đầy đủ các mục tiêu đề ra, đánh giá toàn diện khả năng sinh trưởng và phát triển của tập đoàn giống sắn tại Thái Nguyên năm 2018. Kết quả cho thấy sự đa dạng về đặc điểm sinh trưởng, năng suất và chất lượng giữa các dòng giống. Một số giống nổi trội về tỷ lệ chất khô và năng suất củ khô, có tiềm năng đưa vào sản xuất đại trà. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hai tính trạng năng suất củ tươi và tỷ lệ chất khô có thể cải thiện nhờ vào chọn lọc giống. Đây là cơ sở khoa học quan trọng cho công tác khuyến nông và phát triển vùng nguyên liệu sắn tại Thái Nguyên. Đề tài mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo về đánh giá lâu dài tính ổn định của các giống sắn triển vọng qua nhiều vụ mùa.

4.1. Các giống sắn triển vọng cho sản xuất tại Thái Nguyên

Dựa trên kết quả thí nghiệm, một số giống sắn được xác định là triển vọng cho sản xuất tại Thái Nguyên. Giống sắn cao sản 2 nổi bật với tỷ lệ chất khô đạt 38,7%, vượt trội so với các giống còn lại. Các giống đạt năng suất củ khô trên 10 tấn/ha cũng được khuyến nghị đưa vào khảo nghiệm mở rộng. Đặc điểm hình thái và thực vật học của từng giống được ghi nhận đầy đủ. Màu lá, màu ngọn lá và dạng phiến lá là các đặc trưng phân biệt quan trọng. Việc lựa chọn giống phù hợp cần cân nhắc cả yếu tố năng suất, chất lượng và khả năng thích ứng với điều kiện địa phương.

4.2. Ứng dụng và hướng phát triển tiếp theo

Kết quả nghiên cứu có giá trị ứng dụng thực tiễn cao trong sản xuất sắn tại Thái Nguyên. Nông dân có thể dựa vào dữ liệu năng suất và chất lượng để lựa chọn giống phù hợp. Ngành chế biến tinh bột sắn được hưởng lợi từ việc sử dụng giống có tỷ lệ chất khô cao, giảm chi phí sấy và vận chuyển. Hướng phát triển tiếp theo bao gồm khảo nghiệm quy mô lớn hơn, đánh giá tính ổn định qua nhiều năm và nhiều vùng sinh thái. Nghiên cứu cũng cần bổ sung đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh và hạn hán. Đây là nền tảng quan trọng cho chiến lược phát triển ngành sắn bền vững tại Thái Nguyên.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

18/04/2026
Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển của tập đoàn giống sắn tại thái nguyên năm 2018

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Cây sắn (Manihot esculenta crantz) là một trong những cây lương thực dễ trồng, có khả năng thích ứng rộng, và trồng được trên những vùng đất nghèo, không yêu cầu cao về điều kiện sinh thái, phân bón, chăm sóc. Sắn được trồng rộng rãi ở 300 Bắc đến 300 Nam và được trồng ở trên 100 nước nhiệt đới thuộc ba châu lục lớn là Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Á. Trên thế giới sắn là cây lương thực, thực phẩm chính của hơn 500 triệu người đồng thời là cây thức ăn gia súc và cũng là cây hàng hóa có giá trị xuất khẩu cao. Hiện nay sắn đang được cộng đồng quốc tế (FAO, CIAT, IITA…) quan tâm nghiên cứu phát triển.

Vì cây sắn được coi là giải pháp an toàn lương thực quan trọng hàng đầu tại nhiều nước Châu Phi nơi tình trạng suy dinh dưỡng tăng lên gấp đôi trong hai thập kỷ qua và là nguồn nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc có khối lượng lớn tại nhiều nước Châu Mỹ, đồng thời là cây công nghiệp có giá trị thương mại trong chế biến tinh bột tại nhiều nước Châu Á. Ở Việt Nam, cây sắn là cây lương thực quan trọng sau lúa và ngô, sắn ngày càng có nhu cầu cao trong công nghiệp chế biến tinh bột, thức ăn gia súc, thực phẩm, dược liệu và đã trở thành cây hàng hoá xuất khẩu của nhiều tỉnh. Năm 2014 ở Việt Nam trồng 551,1 nghìn ha với tổng sản lượng thu được 10,225 triệu tấn (FAOSTAT, 2015). Đặc biệt năm 2014 sản lượng xuất khẩu sắn của nước ta là 3,39 triệu tấn, kim ngạch thu được sấp xỉ 1,2 tỷ USD.

Để có được nguồn nguyên liệu ổn định cho các nhà máy chế biến sắn hiện nay thì chúng ta không những phải chú trọng đến việc mở rộng diện tích, nâng cao năng suất mà còn phải đặc biệt quan tâm tới việc chọn lọc, cải tạo và 2 giới thiệu những giống sắn mới có năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng thích ứng rộng, phù hợp với nhu cầu sản xuất. Xuất phát từ thực tế đó việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của tập đoàn giống sắn tại Thái Nguyên năm 2018 ” là hết sức cần thiết. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng của tập đoàn giống sắn tại Thái Nguyên. Yêu cầu nghiên cứu - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của các giống sắn trong tập đoàn giống sắn.

- Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và chất lượng của các giống sắn trong tập đoàn giống sắn. - Mô tả đặc điểm thực vật học của các giống sắn trong tập đoàn giống sắn. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp sinh viên củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, áp dụng vào thực tế tạo điều kiện cho sinh viên học hỏi thêm kiến thức cũng như kinh nghiệm trong sản xuất. - Trên cơ sở học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn đã giúp cho sinh viên nâng cao được chuyên môn, có phương pháp và tổ chức tiến hành nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.

Ý nghĩa thực tiễn - Xác định được đặc điểm nông sinh học của các giống sắn làm cơ sở cho công tác bảo tồn và chọn tạo giống sắn mới. 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc, giá trị dinh dưỡng của cây sắn 2. Nguồn gốc Cây sắn tên khoa học là Manihot esculenta Crantz có hoa hạt kín và thuộc họ thầu dầu có tới hơn 300 chi và 8000 loài phân nhánh thành 17 nhóm, có bộ nhiễm sắc thể 2n=36.

Nhiều tài liệu cho biết cây sắn được trồng cách đây khoảng 5000 năm (Phạm Văn Biên, Hoàng Kim, 1995) [3]. Cây sắn có nguồn gốc từ Châu Mỹ La Tinh, được người dân bản địa trồng trong nhiều thế kỷ trước khi có sự xuất hiện của người Châu Âu. Sau đó sắn đã được đưa đến Châu Phi và Châu Á do nhu cầu an ninh lương thực. Sắn đang chuyển đổi vai trò từ cây lương thực thành cây nhiên liệu sinh học, tinh bột, lương thực, thức ăn gia súc (4F: fuel, flour, food, feed) (Hoàng Kim và ctv, 2014) [12].

Cây sắn được du nhập vào Châu Á khoảng giữa thế kỷ XVII theo 2 con đường: Thứ nhất là vào Srilanca năm 1876 rồi sang Ấn Độ năm 1794 sau đó sang Trung Quốc, Myanmar và một số nước Châu Á khác. Thứ hai là từ Châu Mỹ La Tinh đưa vào Philippin bởi thực dân Tây Ban Nha sau đó đem trồng ở Inđônesia và một số nước Châu Á khác. Ở Việt Nam cây sắn được du nhập vào khoảng giữa thế kỷ 18 (Phạm Văn Biên, 1991) [2]. Giá trị dinh dưỡng của sắn Sắn là một cây trồng có nhiều công dụng trong chế biến công nghiệp, lương thực thực phẩm và thức ăn gia súc.

- Củ sắn tươi: Phần ăn được có tỷ lệ chất khô 30 - 40% trọng lượng mẫu tươi, tinh bột 27 - 36%, đường tổng số 0,5 - 2,5% (trong đó saccarose 71%, 4 glucose13%, fructose 9%, mantose 3%), đạm tổng số 0,5 - 2,0%, chất xơ 1,0%, chất béo 0,5%, chất khoáng 0,5 - 1,5 %, vitamin A khoảng 17 mg/100g, vitamin C khoảng 50 mg/100g, năng lượng 607 KJ/100g, yếu tố hạn chế dinh dưỡng là Cyanogenes, tỷ lệ trích tinh bột 22 - 25 %, kích thước hạt bột 5 - 50 micron, amylose 15 - 29 %, độ dính tối đa 700 - 1100 BU, nhiệt độ hồ hóa 49 - 73 OC.1: Thành phần hoá học trong củ sắn tươi Thành phần Hàm lượng Tỷ lệ chất khô (%) 30 - 40 Hàm lượng tinh bột (%) 27 - 36 Đường tổng số (% FW) 0,5 - 2,5 Đạm tổng số (%FW) 0,5 - 2,0 Chất xơ (%FW) 1,0 Chất béo (%FW) 0,5 Chất khoáng (%FW) 0,5 - 1,5 Vitamin A (mg/100gFW) 17 Vitamin C (mg/100gFW) 50 Năng lượng (KJ/100g) 607 Amylose (%) 15 - 29 Củ sắn giàu chất bột, năng lượng, khoáng, vitamin C, hạt bột sắn nhỏ mịn, độ dính cao nhưng nghèo chất béo và nhất là nghèo đạm, hàm lượng các acid amin không cân đối, thừa arginin nhưng thiếu các acid amin chứa lưu huỳnh. Tùy theo giống sắn, vụ trồng, số tháng thu hoạch sau trồng và kỹ thuật phân tích mà tổng số vật chất khô và hàm lượng đạm, béo, khoáng, xơ, đường, bột có sự thay đổi. - Ngoài củ sắn tươi: thân lá sắn cũng có những giá trị nhất định, theo nghiên cứu cho thấy lá sắn có hàm lượng đạm cao chiếm tới 7,22% có nhiều 5 chất bột, chất khoáng vitamin. Do đó người dân sử dụng lá sắn để muối dưa, làm thức ăn cho tằm và có thể sử dụng làm thức ăn trong chăn nuôi.

Thân sắn chặt hom để làm giống, củi đun, trồng nấm, làm hàng rào,. Đặc biệt ở các nước phát triển thân sắn còn được chế biến lấy xenllulozo. - Sắn lát khô: thường có hai loại là sắn lát khô có vỏ và sắn lát khô không vỏ. Sắn lát khô có vỏ bao gồm: vỏ thịt, thịt sắn, lõi sắn và có thể là một phần vỏ gỗ.

Sắn lát khô không vỏ chỉ bao gồm thịt sắn và lõi sắn. Số liệu phân chất về sắn lát khô không vỏ của Việt Nam bình quân: đạt vật chất khô 90,01%, đạm thô 2,48%, béo thô 1,40%, xơ thô 3,72%, khoáng tổng số 2,04%, dẫn xuất không đạm 78,59%, Ca 0,15%, P 0,25%. Sắn lát khô có vỏ vật chất khô 90,57%, đạm thô 4,56%, béo thô 1,43%, xơ thô 3,52%, khoáng tổng số 2,22%, dẫn xuất không đạm 78,66%, Ca 0,27%, P 0,50%. - Bột sắn nghiền và tinh bột sắn: bột sắn nghiền thủ công có vật chất khô khoảng 87,56%, đạm thô 3,52%, béo thô 1,03%, xơ thô 1,37%, khoáng tổng số 1,38%, dẫn xuất không đạm 83,89%, Ca 0,11%, P 0,11%.

Tinh bột sắn có màu rất trắng. Hạt tinh bột sắn quan sát trên kính hiển vi điện tử quét SEM có kích thước 5-40 nm, nhiều hình dạng, chủ yếu là hình tròn, bề mặt nhẵn, một bên mặt có chỗ lõm hình nón và một núm nhỏ ở giữa. Tinh bột sắn có hàm lượng amylopectin và phân tử lượng trung bình cao hơn amylose của tinh bột bắp, lúa mì, khoai tây, độ nhớt cao, xu hướng thoái hóa thấp, độ bền gen cao (Hoàng Kim Anh, Ngô Kế Sương, Nguyễn Xích Liên, 2005) [1].2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới và Việt Nam 2. Tình hình sản xuất sắn trên thế giới Trên thế giới, sắn được trồng rộng rãi ở 30º vĩ độ Bắc đến 30º vĩ độ Nam và được trồng ở trên 100 nước nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc ba châu lục lớn là Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Á (Trần Ngọc Ngoạn, 2007) [13].

Tình hình sản xuất sắn trên thế giới được thể hiện ở bảng 2.2: Tình hình sản xuất sắn trên thế giới giai đoạn 2012 - 2017 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm ( triệu ha) ( tấn/ha) (triệu tấn) 2012 25,41 10,92 277,68 2013 25,91 10,74 278,45 2014 25,55 11,43 292,05 2015 26,02 11,35 295,24 2016 25,85 11,45 296,04 2017 26,34 11,08 291,99 (Nguồn : FAOSTAT, 3/2019) [18] Qua số liệu bảng 2.2 cho thấy diện tích trồng sắn trên thế giới có tăng giảm nhưng không nhiều trong 5 năm gần đây, từ 25,41 triệu ha (2012) lên 26,34 triệu ha (2017). Năng suất có xu hướng tăng từ 10,92 tấn/ha (năm 2012) lên 11,08 tấn/ha (năm 2017). Tuy nhiên do diện tích tăng nên sản lượng sắn trên thế giới tăng dần qua các năm từ 277,68 triệu tấn (năm 2012) lên 291,99 triệu tấn (năm 2017). Theo Viện Nghiên cứu chiến lược Lương thực Quốc tế và Trung tâm Khoai tây Quốc tế đã tính toán nhiều mặt và dự báo tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn toàn cầu với tầm nhìn đến năm 2020 (Trần Ngọc Ngoạn, 2007)[13].

Năm 2020 sản lượng sắn toàn cầu ước đạt 275,10 triệu tấn, trong đó sản xuất sắn chủ yếu ở các nước đang phát triển là 274,7 triệu tấn, còn ở các nước đã phát triển khoảng 0,40 triệu tấn. Mức tiêu thụ sắn ở các nước đang phát triển dự báo đạt 254,60 triệu tấn, các nước đã phát triển là 20,5 triệu tấn. Khối lượng sản phẩm sắn toàn cầu sử dụng làm lương thực thực phẩm dự báo nhu cầu là 176,3 triệu tấn và thức ăn gia súc 53,4 triệu tấn. Tốc độ tăng hàng năm của nhu cầu sử dụng sản phẩm sắn làm lương thực, thực phẩm và thức ăn gia súc đạt tương ứng là 1,98% và 0,95%.

Châu Phi vẫn là khu vực dẫn đầu về 7 nhu cầu sản lượng sắn toàn cầu với dự báo năm 2020 sẽ đạt 168,6 triệu tấn. Trong đó, khối lượng sản phẩm được sử dụng làm lương thực thực phẩm là 77,2%, làm thức ăn gia súc là 4,4%.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ