Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận - Chương 2: Cách tiếp cận, phương pháp và khu vực nghiên cứu - Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới Paul (2020): Nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số để đánh giá tính bền vững sinh kế của các dân tộc thiểu số phụ thuộc vào canh tác nƣơng rẫy tại Khu vực Đông Bắc của Ấn Độ đại diện cho một cộng đồng sống phụ thuộc vào canh tác nƣơng rẫy và tài nguyên rừng để kiếm sống. Nghiên cứu này xem xét tính bền vững về sinh kế của những nông dân nghèo trong rừng này trong phạm vi của khung sinh kế bền vững. Cách tiếp cận dựa trên chỉ số đã giúp phát triển một thƣớc đo tổng hợp, đƣợc gọi là chỉ số sinh kế bền vững (SLI), đƣa ra ý tƣởng công bằng về mức độ bền vững sinh kế của các hộ gia đình canh tác du canh trong khu vực nghiên cứu.
Nghiên cứu đƣợc thực hiện với sáu trăm hai mƣơi mốt hộ gia đình canh tác du canh (n = 621) đƣợc lấy ngẫu nhiên từ các bang của Đông Bắc Ấn Độ, đó là Arunachal Pradesh, Assam, Manipur, Meghalaya, Mizoram, Nagaland và Tripura. Những phát hiện của nghiên cứu đã làm sáng tỏ bức tranh về sinh kế dựa vào du canh trong khu vực. Các nguồn vốn xã hội và tài chính là quan trọng nhất để mang lại sự bền vững trong sinh kế của những ngƣời canh tác du canh. Nghiên cứu đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của đa dạng hóa sinh kế, cải thiện khả năng tiếp cận thị trƣờng và tăng cƣờng liên hệ khuyến nông đối với sự bền vững sinh kế của các nhóm nông dân này.
Theo kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số biện pháp chính sách trong phạm vi tín ngƣỡng văn hóa xã hội phổ biến của những ngƣời canh tác du canh nhằm sinh kế bền vững, bảo tồn môi trƣờng và sự chung sống hài hòa. Nghiên cứu của Asmah (2011) về đa dạng hóa sinh kế nông thôn và cải cách ngành nông nghiệp ở Ghana. Mô hình hồi quy với các biến phụ thuộc là mức độ đa dạng đƣợc đo lƣờng bằng tỷ lệ thu nhập nông nghiệp và chỉ số đo lƣờng mức độ đa dạng hóa. Các hộ gia đình sống trong các cộng đồng tiếp cận với phân bón, giao thông công cộng và các thị trƣờng sản phẩm địa phƣơng có nhiều khả năng tham gia vào đa dạng hóa phi nông nghiệp và tận hƣởng cải thiện phúc lợi.
Nghiên cứu của Ibrahim (2018) về Mức độ sở hữu tài sản sinh kế trong nhóm dễ bị tổn thƣơng ở Bờ Đông Malaysia: Bài báo này nhằm mục đích phân tích mức độ sở hữu tài sản sinh kế của nhóm dễ bị tổn thƣơng ở Kelantan, Bờ Đông Malaysia. Tổng cộng 4 có 300 ngƣời đƣợc hỏi bao gồm nhóm dễ bị tổn thƣơng ở khu vực nông thôn, Bang Kelantan đã đƣợc chọn để đạt đƣợc mục tiêu này. Dựa trên Phân tích sinh kế bền vững, một bảng câu hỏi có cấu trúc đã đƣợc phát triển để thu thập thông tin về tài sản sinh kế, bao gồm tài sản con ngƣời, tài chính, xã hội, tự nhiên và vật chất. Nghiên cứu này cho thấy tài sản con ngƣời là tài sản chính đóng góp vào sinh kế so với các tài sản khác của nhóm dễ bị tổn thƣơng ở Kelantan.
Nghiên cứu này sẽ mang lại lợi ích cho các nhà hoạch định chính sách, những ngƣời trực tiếp tham gia vào sự phát triển của các cộng đồng nông thôn. Nghiên cứu này cũng đề xuất một số giải pháp khắc phục cần giải quyết nhằm nâng cao tính bền vững của sinh kế nhóm dễ bị tổn thƣơng. Yadav và các cộng sự (2014) có một nghiên cứu về các chỉ số mang tính hƣớng dẫn về sinh kế bền vững trong tình trạng nghèo đói. Một sinh kế bền vững khi nó có thể đối phó và phục hồi sau những căng thẳng và cú sốc và duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản của mình cả hiện tại và trong tƣơng lai, đồng thời không làm suy giảm tài nguyên thiên nhiên cơ sở.
Tìm kiếm các chỉ số là một cách để nâng cao hiểu biết về sinh kế của ngƣời nghèo. Nó rút ra các yếu tố chính ảnh hƣởng đến sinh kế của ngƣời nghèo và mối quan hệ đặc trƣng giữa các yếu tố này các nhân tố. Nó có thể đƣợc sử dụng trong việc lập kế hoạch cho các hoạt động phát triển mới và trong việc đánh giá sự đóng góp của các hoạt động hiện có, các hoạt động đã thực hiện để duy trì. Wang và các cộng sự (2015) đã nghiên cứu về Đánh giá sinh kế bền vững của những ngƣời nông dân khác nhau sinh ra đất đỏ bị xói mòn khu vực phía nam Trung Quốc: Khả năng sinh kế dễ bị tổn thƣơng ở các khu vực dễ bị tổn thƣơng về môi trƣờng đang nổi lên trong vấn đề khí đốt do phản hồi tích cực của nó đối với suy thoái môi trƣờng.
Đánh giá sinh kế bền vững là điều kiện tiên quyết quan trọng để xác định mục tiêu can thiệp. Tuy nhiên, phân tích tổng hợp thƣờng thu đƣợc những kết luận mơ hồ vì chúng bỏ qua tính không đồng nhất của các hộ gia đình nông thôn. Ở đây, chúng tôi đã đánh giá tính bền vững sinh kế của các hộ gia đình nông thôn khác nhau bằng cách xây dựng Chỉ số Bền vững Sinh kế (LSI) đƣợc cải thiện ở các khu vực xói mòn đất đồi núi ở miền nam Trung Quốc. Huyện Trƣờng Đình đƣợc chọn làm trƣờng hợp nghiên cứu nhờ tính đại diện duy nhất của nó về tình trạng xói mòn đất và nghèo đói.
Kết quả cho thấy tính bền vững về sinh kế giữa các hộ gia đình nông thôn là không tƣơng đƣơng. Khác với các nghiên cứu trƣớc đây, tỷ lệ thu nhập phi nông nghiệp cao hơn không phải lúc nào cũng phù hợp với mức độ bền vững sinh kế cao hơn. Bên cạnh 5 việc làm phi nông nghiệp, chuyên môn hóa nông nghiệp có thể là một con đƣờng khả thi khác để đạt đƣợc sinh kế bền vững. Chúng tôi cũng nhận thấy rằng tính bền vững giữa các thế hệ là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự khác biệt về sinh kế lâu dài của các hộ gia đình nông thôn.
Trình độ học vấn thấp ở khu vực nông thôn sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng dễ bị tổn thƣơng về sinh kế của ngƣời nghèo và đe dọa sinh kế bền vững của các hộ gia đình chuyên canh nông nghiệp. Các chính sách bao gồm đầu tƣ hơn nữa vào cơ sở hạ tầng nông thôn, tƣới tiêu và khuyến khích chuyển dịch và tập trung ruộng đất để tạo điều kiện chuyên môn hóa nông nghiệp; tăng cƣờng đầu tƣ cho giáo dục nông thôn để nâng cao tính bền vững giữa các thế hệ; cũng nhƣ nhắm mục tiêu vào các hộ gia đình dễ bị tổn thƣơng nhất, chẳng hạn nhƣ thúc đẩy phát triển bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội và dịch vụ y tế cho trẻ mồ côi và góa phụ. Zhen và các cộng sự (2019) nghiên cứu về Vốn sinh kế bền vững và chiến lƣợc trong các hộ gia đình du lịch nông thôn: Góc nhìn thời vụ. Là một hiện tƣợng thị trƣờng đặc trƣng và phổ biến vốn có của ngành du lịch, tính thời vụ đóng vai trò quan trọng đối với khả năng tồn tại và bền vững của hoạt động kinh doanh du lịch.
Nó cũng là một yếu tố quan trọng đối với các hộ gia đình nông thôn tham gia vào du lịch khi họ hoạch định các chiến lƣợc sinh kế của mình xung quanh nó. Trong nghiên cứu này, các cuộc điều tra hộ gia đình đƣợc thực hiện ở The Beautiful South, một khu vực dành cho du lịch nông thôn ở Quảng Tây, miền Nam Trung Quốc. Chúng tôi đã phân tích vốn sinh kế và chiến lƣợc của các loại hộ gia đình khác nhau để đối phó với những biến động theo mùa trong du lịch bằng cách áp dụng một phƣơng pháp hỗn hợp đánh giá chỉ số vốn sinh kế (LCI) tích hợp và phân tích vỏ bọc dữ liệu. Kết quả chỉ ra rằng LCI của các hộ gia đình định hƣớng thu nhập từ du lịch đứng thứ hai trong số bốn loại hộ gia đình, trong khi LCI của các hộ gia đình tham gia vào du lịch trong mùa cao điểm hoạt động tốt hơn so với các hộ gia đình không tham gia.
Tuy nhiên, số hộ tham gia làm du lịch giảm gần một nửa trong thời gian trái vụ, chủ yếu chuyển sang làm các công việc lao động tạm thời, đây có thể là một trong những nguyên nhân khiến hiệu quả đồng vốn sinh kế của các hộ làm du lịch thấp. Hiuquin và Cộng sự (2020) đƣa ra nghiên cứu về Bộ chỉ số sinh kế bền vững cho nông thôn. Đánh giá sự phục hồi - Nghiên cứu mô hình hóa du lịch thông minh. Nghiên cứu này giới thiệu bộ chỉ số bền vững về sinh kế.
Chỉ số này giúp xây dựng một hệ thống cân bằng để đánh giá các thành tựu bền vững về sinh kế tại các điểm du 6 lịch nông thôn. Nó dựa trên vốn sinh kế, chiến lƣợc sinh kế và mối liên hệ giữa sinh kế và môi trƣờng, nhằm đánh giá tính bền vững về sinh kế của các hộ gia đình nông thôn. Lấy quận Huangpi của khu vực Vũ Hán, Trung Quốc làm nghiên cứu điển hình áp dụng của tác giả, chỉ số bền vững sinh kế dƣờng nhƣ cho thấy sự gia tăng đáng kể trong những năm qua, dựa trên phƣơng pháp chỉ số toàn diện, phƣơng pháp entropy và mô hình phối hợp khớp nối. Phát hiện của tác giả cho thấy sự phát triển của du lịch nông thôn đã thúc đẩy sự bền vững về sinh kế một cách rõ ràng.
Điều này đã dẫn đến việc tích lũy vốn sinh kế, cả vốn xã hội và văn hóa đều đƣợc hƣởng lợi rất nhiều; các chiến lƣợc sinh kế cũng đã đƣợc cải thiện, do đó có sự đa dạng và ổn định về sinh kế và cuối cùng, mức độ liên kết và phối hợp giữa sinh kế và môi trƣờng cũng đã thay đổi tích cực từ phát triển cân bằng từ sơ cấp sang trung cấp. Có thể đề xuất nhiều cách tiếp cận khác nhau để đạt đƣợc sinh kế bền vững hơn, chẳng hạn nhƣ tăng cƣờng vốn sinh kế; thu hẹp khoảng cách kinh tế giữa nông dân bằng cách tham gia vào hoạt động du lịch chuyên nghiệp; thiết lập cơ chế liên kết công nghiệp và phát triển du lịch sinh thái nông thôn và điều phối phát triển cân bằng giữa sinh kế và chất lƣợng môi trƣờng.