CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Xu hướng tự do hóa và toàn cầu hóa kinh tế khiến cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng ngày càng trở nên phức tạp và luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, như: rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro thanh khoản và những rủi ro khác. Cùng với xu hướng tự do hóa tài chính, rủi ro lãi suất là một trong những rủi ro cơ bản nhất của các Ngân hàng thương mại. Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn này đi sâu vào nghiên cứu rủi ro lãi suất.1 RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.1 Khái niệm rủi ro lãi suất.
Rủi ro lãi suất là khả năng ngân hàng phải đối mặt với sự suy giảm lợi nhuận hoặc những tổn thất về tài sản do sự biến động của lãi suất. Sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ làm cho ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất.2 Nguyên nhân gây ra rủi ro lãi suất. Có ba nhóm nguyên nhân dẫn đến rủi ro, gồm: - Nguyên nhân thuộc về năng lực quản trị của ngân hàng: trình độ công nghệ, quy mô, nhân lực,. - Các nguyên nhân thuộc về phía khách hàng: nguồn thu nhập, động cơ gửi tiền,.
- Các nguyên nhân khách quan có liên quan đến môi trường hoạt động kinh doanh: nền kinh tế vĩ mô, chính sách tài chính của Chính phủ,.3 Ảnh hưởng của rủi ro lãi suất. Sự biến động về lãi suất có thể đưa đến những rủi ro trong việc tái tài trợ tài sản nợ, tái đầu tư tài sản có hoặc rủi ro giảm giá trị tài sản, cụ thể: - Trường hợp ngân hàng duy trì tài sản có có kỳ hạn dài hơn so với tài sản nợ thì ngân hàng đứng trước rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ đối với tài sản nợ 1 123doc (đầu tư vào tài sản lãi suất cố định nhưng huy động với lãi suất thả nổi). Giả sử lãi suất huy động là 9%/năm kỳ hạn 1 năm và lãi suất đầu tư là 10%/năm kỳ hạn 2 năm. Nếu khoản đầu tư 100 triệu đồng kỳ hạn 2 năm được tài trợ bằng vốn huy động kỳ hạn 1 năm thì trong năm thứ nhất ngân hàng sẽ thu lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất là 1%.
Vì lãi suất huy động có thể thay đổi từ năm thứ nhất sang năm thứ hai nên ngân hàng luôn đứng trước rủi ro lãi suất. Rủi ro sẽ trở thành hiện thực nếu lãi suất huy động vốn trong năm kế tiếp tăng lên trên mức lãi suất đầu tư; ví dụ sang năm thứ hai lãi suất huy động kỳ hạn 1 năm là 11% thì lợi nhuận thu được từ khoản đầu tư sẽ là một số âm = 100(10%-11%) = -1 triệu đồng. - Trường hợp ngân hàng huy động vốn có kỳ hạn dài và đầu tư có kỳ hạn ngắn thì ngân hàng đứng trước rủi ro về lãi suất tái đầu tư tài sản có (đầu tư vào tài sản với lãi suất thả nổi nhưng huy động với lãi suất cố định). Giả sử ngân hàng huy động vốn với lãi suất 9%/năm kỳ hạn 2 năm và đầu tư vào tài sản có mức lãi suất 10%/năm kỳ hạn 1 năm.
Nếu sang năm thứ hai lãi suất đầu tư giảm xuống còn 8% thì ngân hàng sẽ chịu một khoản lỗ do lãi suất đầu tư thấp hơn lãi suất huy động 1%/năm. Ngoài rủi ro lãi suất tái tài trợ tài sản nợ hoặc tái đầu tư tài sản có thì khi lãi suất thị trường thay đổi ngân hàng có thể gặp rủi ro giảm giá trị tài sản. Giá trị thị trường của tài sản nợ và tài sản có dựa trên khái niệm giá trị hiện tại của tiền tệ. Do đó nếu lãi suất của thị trường tăng lên thì giá trị hiện tại của tài sản nợ và tài sản có giảm xuống.
Ngược lại, nếu lãi suất của thị trường giảm thì giá trị của tài sản nợ và tài sản có sẽ tăng lên. Do đó, nếu kỳ hạn của tài sản nợ và tài sản có không cân xứng với nhau thì khi lãi suất thị trường tăng, giá trị tài sản có sẽ giảm nhanh hơn và nhiều hơn so với sự giảm giá trị của tài sản nợ dẫn đến thiệt hại về tài sản của ngân hàng.4 Lượng hóa rủi ro lãi suất. Để phòng tránh RRLS, đòi hỏi NHTM phải tăng cường công tác quản lý, trong đó cần áp dụng phương pháp lượng hóa rủi ro lãi suất có ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh. Hiện nay, trên thế giới có 3 mô hình lượng hóa RRLS đang được 2 123doc các ngân hàng hiện đại áp dụng, đó là: mô hình kỳ hạn đến hạn, mô hình định giá lại và mô hình thời lượng.1 Mô hình kỳ hạn đến hạn.
Có 2 phương pháp để lượng hóa mô hình này là: - Phương pháp lượng hóa RRLS đối với một tài sản. - Phương pháp lượng hóa RRLS đối với danh mục tài sản. Mô hình kỳ hạn là một phương pháp trực quan để lượng hóa RRLS qua đánh giá sự cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản nợ và tài sản có trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Nhược điểm của mô hình này là không đề cập đến yếu tố thời lượng của các luồng tài sản có và tài sản nợ.
Tuy nhiên, do tính đơn giản và trực quan nên được sử dụng khá phổ biến, điều này cũng phù hợp với Việt Nam hiện đang trong quá trình hiện đại hóa ngân hàng.2 Mô hình định giá lại. Nội dung cơ bản của mô hình này là việc phân tích các luồng tiền dựa trên nguyên tắc giá trị ghi sổ nhằm xác định chênh lệch giữa lãi suất thu được từ tài sản có và lãi suất thanh toán cho vốn huy động sau một thời gian nhất định. Một nhược điểm của mô hình là chỉ đề cập đến giá trị ghi sổ của tài sản mà không đề cập đến giá trị thị trường của chúng. Do đó, mô hình định giá lại chỉ phản ánh được một phần RRLS đối với ngân hàng.3 Mô hình thời lượng.
So với hai mô hình trên, thì mô hình thời lượng hoàn hảo hơn trong việc đo mức độ nhạy cảm của tài sản có và tài sản nợ đối với lãi suất, bởi vì nó đề cập đến yếu tố thời lượng của tất cả các luồng tiền cũng như kỳ hạn đến hạn của tài sản nợ và tài sản có. Do vậy, đối với kinh doanh ngân hàng, thì việc sử dụng mô hình thời lượng để quản trị RRLS là một giải pháp thích hợp. Một chức năng quan trọng của mô hình thời lượng là cho phép NHTM phòng ngừa được rủi ro lãi suất đối với toàn bộ hay một bộ phận riêng lẻ của bảng cân đối tài sản. Tuy nhiên mô hình thời lượng là một mô hình phức tạp, đòi hỏi nhà quản trị phải thường xuyên cơ cấu lại 3 123doc bảng cân đối tài sản để thời lượng của tài sản có và tài sản nợ cân xứng nhau, nhưng việc này không phải lúc nào cũng làm được.
Vì vậy, NHTM có thể lựa chọn một biện pháp đo lường RRLS phù hợp với điều kiện công nghệ và thực trạng rủi ro.2 QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.1 Khái niệm quản trị rủi ro lãi suất. Quản trị là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản trị đến đối tượng chịu sự quản trị nhằm sử dụng tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội để đạt được các mục tiêu kinh doanh đã đề ra trong mỗi thời kỳ với phương châm tối ưu hóa chi phí được sử dụng vào qúa trình đó, đồng thời đảm bảo tăng lợi nhuận. Quản trị rủi ro là qúa trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro. Quản trị rủi ro bao gồm các bước: nhận dạng rủi ro, phân tích rủi ro, đo lường rủi ro, kiểm soát, phòng ngừa rủi ro và tài trợ rủi ro.
Quản trị rủi ro lãi suất là việc ngân hàng tổ chức một bộ phận nhằm nhận biết, định lượng những tổn thất đang và sẽ gây ra từ rủi ro lãi suất để từ đó có thể giám sát và kiểm soát rủi ro lãi suất thông qua việc lập nên những chính sách, chiến lược sử dụng các công cụ phòng ngừa và hạn chế rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng một cách đầy đủ, toàn diện và liên tục.2 Mục tiêu của quản trị rủi ro lãi suất. Mục tiêu quan trọng trong hoạt động quản lý rủi ro lãi suất là bảo vệ thu nhập dự kiến ở mức tương đối ổn định bất chấp sự thay đổi của lãi suất. Để đạt được mục tiêu này, ngân hàng phải duy trì tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) cố định. Đây là hệ số giúp cho ngân hàng dự báo trước khả năng sinh lãi của ngân hàng thông qua việc kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và tìm kiếm những nguồn vốn có chi phí thấp nhất.
Hệ số này cho thấy nếu chi phí huy động vốn tăng nhanh hơn lãi thu từ cho vay và đầu tư hoặc lãi thu từ cho vay và đầu tư giảm nhanh hơn 4 123doc chi phí huy động vốn sẽ làm cho thu nhập lãi biên bị thu hẹp lại, rủi ro lãi suất sẽ lớn.3 Quy trình quản trị rủi ro lãi suất. Quy trình quản trị rủi ro lãi suất là một qúa trình gắn với việc quản trị tài sản nợ - tài sản có, và phải bao gồm các bước sau: - Xác định rủi ro (Nhận dạng): là giai đoạn ngân hàng dự đoán sự biến động của lãi suất và nhận biết chiều hướng ảnh hưởng của lãi suất đối với ngân hàng. - Đo lường rủi ro (Đánh giá): sử dụng các mô hình để định lượng rủi ro lãi suất. Các mô hình ngân hàng thường sử dụng: Mô hình kỳ hạn đến hạn, mô hình đánh giá lại, mô hình thời lượng.
- Giám sát rủi ro lãi suất (Kiểm soát): gồm các chiến lược sau: + Né tránh/ Từ bỏ (Avoidance)/Elimination + Giảm thiểu (Reduction) + Ngăn ngừa (Prevention) + Chuyển giao (Transfer) - Tài trợ rủi ro: việc chuẩn bị các nguồn tài chính để bù đắp khi rủi ro lãi suất xảy ro.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng thương mại. - Nhân tố bên ngoài ngân hàng: Môi trường kinh tế vĩ mô, hành lang pháp lý về vấn đề quản trị rủi ro lãi suất của NHNN. Địa bàn hoạt động của ngân hàng. - Nhân tố bên trong Ngân hàng: + Trình độ của quản trị viên, nhân viên ngân hàng.