Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quá trình đô thị hóa nhanh chóng tại Việt Nam nói chung và Thủ đô Hà Nội nói riêng mang lại sự chuyển dịch kinh tế tích cực nhưng cũng đặt ra áp lực lớn đối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị. Tình trạng hạ tầng phát triển không đồng bộ, nhiều ao hồ tiêu thoát nước bị lấn chiếm hoặc thu hẹp, lòng cống rãnh bị tắc nghẽn đã dẫn đến ngập lụt nghiêm trọng vào mùa mưa bão, ô nhiễm môi trường nước và không khí, đồng thời phát sinh nguy cơ lây lan dịch bệnh.

Quận Hoàng Mai có vị trí địa lý đặc thù ở cửa ngõ phía Nam Hà Nội, là địa bàn duy nhất của thành phố có 4 tuyến sông chính chảy qua gồm: sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét và sông Kim Ngưu. Đây đồng thời là các trục thoát nước chủ yếu của toàn bộ khu vực nội đô tập kết về trạm bơm đầu mối Yên Sở trước khi xả ra sông Hồng. Do địa hình trũng thấp và giữ vai trò tiếp nhận nước thải, nước mưa của lưu vực trung tâm, công tác quản lý hệ thống thoát nước tại quận Hoàng Mai là nhiệm vụ cấp thiết nhằm giải quyết tình trạng ngập úng và bảo vệ môi trường đô thị.

Khóa luận xác định các nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu cụ thể như sau:

Mục tiêu nghiên cứu:

  1. Làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về công tác quản lý hệ thống thoát nước đô thị.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý hệ thống thoát nước tại quận Hoàng Mai, tổng hợp các thành quả đạt được, chỉ ra các hạn chế và nguyên nhân cốt lõi.
  3. Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý hệ thống thoát nước quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Thực trạng công tác quản lý hệ thống thoát nước quận Hoàng Mai, TP. Hà Nội hiện nay như thế nào?
  2. Tính hiệu quả của công tác quản lý hệ thống thoát nước quận Hoàng Mai, TP. Hà Nội hiện nay ra sao?
  3. Có những giải pháp nào để hoàn thiện công tác quản lý hệ thống thoát nước quận Hoàng Mai, TP. Hà Nội?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống thoát nước và công tác quản lý hệ thống thoát nước tại quận Hoàng Mai, TP. Hà Nội.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn quận Hoàng Mai, TP. Hà Nội (gồm 14 phường trực thuộc với tổng diện tích tự nhiên là 4.104,1 ha).
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu thực trạng được thu thập và phân tích trong giai đoạn 2015 – 2020; các giải pháp định hướng hoàn thiện được đề xuất đến năm 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý

Nghiên cứu vận dụng khung khái niệm về hệ thống thoát nước (HTTN) và quản lý nhà nước về thoát nước đô thị dựa trên các quy định pháp luật hiện hành:

  • Nghị định số 80/2014/NĐ-CP: Quy định về thoát nước và xử lý nước thải tại các đô thị, khu công nghiệp; định nghĩa chi tiết mạng lưới thoát nước, cống bao, hồ điều hòa, trạm bơm, phân loại HTTN chung, HTTN riêng và HTTN nửa riêng.
  • Quyết định số 41/2017/QĐ-UBND của UBND TP. Hà Nội: Quy định về phân cấp quản lý hoạt động thoát nước và xử lý nước thải trên địa bàn TP. Hà Nội, phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của UBND cấp quận, huyện.
  • Nghị định số 67/2003/NĐ-CP: Quy định về bảo vệ môi trường đối với nước thải.

Về mặt lý luận, tác giả hệ thống hóa các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống thoát nước thành hai nhóm:

  • Nhân tố bên trong: Trình độ, năng lực bộ máy của đơn vị trực tiếp quản lý, vận hành (đội ngũ lãnh đạo, quản lý kỹ thuật, công nhân vận hành) và chất lượng đồng bộ của mạng lưới hạ tầng kỹ thuật.
  • Nhân tố bên ngoài: Ý thức của cộng đồng dân cư trong việc chấp hành quy định xả thải và bảo vệ cống rãnh; nguồn vốn ngân sách và vốn xã hội hóa bố trí cho đầu tư hạ tầng; các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu (tăng cường độ mưa cực đoan, thay đổi chế độ thủy văn).

Nghiên cứu cũng tổng hợp bài học kinh nghiệm quốc tế (Singapore với cơ quan PUB, mạng lưới cống 8.000 km, 17 hồ chứa; Nhật Bản với hệ thống thoát nước ngầm Tokyo gồm 5 trục điều tiết cao 70m xả ra sông Edo) và kinh nghiệm thực tiễn giảm ngập nước từ TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2016 – 2020.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu học thuật gồm:

  • Nghiên cứu tại bàn (Desk research): Thu thập, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết, tài liệu lưu trữ từ các cơ quan quản lý.
  • Thống kê mô tả (Descriptive statistics): Xử lý số liệu, lập bảng biểu tổng hợp về khối lượng quản lý hạ tầng, số liệu dân số, lưu lượng nước thải, khối lượng nạo vét bùn cống ngầm và thời gian tiêu thoát nước.
  • Phương pháp nghiên cứu định tính (Qualitative research): Đánh giá thực trạng cơ cấu tổ chức bộ máy, cơ chế phối hợp liên ngành, phân tích các nguyên nhân tồn tại trong công tác quản lý.

Nguồn dữ liệu:

  • Dữ liệu thứ cấp từ Phòng Quản lý đô thị quận Hoàng Mai.
  • Báo cáo và số liệu quản lý kỹ thuật của Xí nghiệp Thoát nước số 3 (thuộc Công ty TNHH MTV Thoát nước Hà Nội).
  • Niên giám thống kê thành phố Hà Nội các năm 2018, 2019.
  • Cổng thông tin điện tử quận Hoàng Mai và Cổng giao tiếp điện tử TP. Hà Nội.
  • Các công bố khoa học chuyên ngành trong nước.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lý luận và pháp lý về công tác quản lý hệ thống thoát nước

Chương 1 làm rõ các khái niệm nền tảng về HTTN đô thị, hệ thống thoát nước mưa, hệ thống thoát nước thải và định nghĩa quản lý HTTN như một quá trình tác động có tổ chức của cơ quan nhà nước thông qua cơ chế, chính sách nhằm vận hành hệ thống đồng bộ, hiệu quả, tiết kiệm nguồn lực và bảo vệ môi trường. Tác giả phân tích cụ thể các yếu tố bên trong (bộ máy, nhân lực, mạng lưới cống) và bên ngoài (ý thức người dân, nguồn vốn, biến đổi khí hậu). Chương này trích dẫn chi tiết Quyết định 41/2017/QĐ-UBND quy định nhiệm vụ của UBND cấp quận và sự phối hợp giữa các phòng chuyên môn (Thanh tra Xây dựng, Tài nguyên - Môi trường, Tài chính - Kế hoạch). Đồng thời, chương 1 trình bày bài học kinh nghiệm thoát nước từ Singapore, Nhật Bản và TP. Hồ Chí Minh để làm tiền đề so sánh cho địa bàn nghiên cứu.

Chương 2. Thực trạng công tác quản lý hệ thống thoát nước tại quận Hoàng Mai, TP. Hà Nội

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng kinh tế - xã hội, điều kiện địa hình, khí hậu và hiện trạng kỹ thuật hệ thống thoát nước tại quận Hoàng Mai. Về tự nhiên, quận có địa hình trũng thấp nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam, cao độ trung bình từ 4 - 5m, chia làm vùng trong đê và vùng ngoài đê (khoảng 920 ha). Mạng lưới thoát nước chính của quận phụ thuộc vào 4 con sông với tổng chiều dài 18 km, chia thành 4 lưu vực:

Lưu vực Địa bàn thoát nước chính Tuyến tiếp nhận chính Diện tích lưu vực
Lưu vực I Một phần phường Đại Kim, Định Công, Hoàng Liệt Thoát trực tiếp ra sông Tô Lịch 150 ha
Lưu vực II Một phần phường Đại Kim, Định Công Thoát trực tiếp ra sông Lừ 100 ha
Lưu vực III Phường Tương Mai, Giáp Bát, Thịnh Liệt, Tân Mai Thoát ra sông Sét 850 ha
Lưu vực IV Phường Hoàng Văn Thụ, Mai Động, Vĩnh Hưng, Thanh Trì, Lĩnh Nam, Trần Phú, Yên Sở, một phần Hoàng Liệt Tuyến mương nội bộ xả ra sông Kim Ngưu 1.150 ha

Về khối lượng hạ tầng kỹ thuật, toàn bộ mạng lưới trên địa bàn quận Hoàng Mai do Xí nghiệp Thoát nước số 3 (Công ty TNHH MTV Thoát nước Hà Nội) quản lý và vận hành:

STT Hạng mục công trình Đơn vị tính Khối lượng quản lý (Năm 2019)
1 Cống rãnh các loại Km 166,506
2 Ga thu Ga 2.075
3 Ga thăm Ga 2.979
4 Ga thăm thu kết hợp Ga 1.509
5 Mương thoát nước (33 tuyến) Km 20,219
6 Sông (sông Kim Ngưu, sông Sét) Km 6,650
7 Hồ điều hòa Hồ 14
8 Trạm bơm cục bộ Trạm 4
9 Cửa phai điều tiết Cửa 6
10 HTTN ngõ xóm theo phân cấp Km 120,637

Thực trạng thoát nước mưa cho thấy hệ thống chưa được quy hoạch bài bản, tỷ lệ diện tích mặt nước hồ ao mương chiếm tỷ trọng thấp (32,64% trong đê và 15,27% trên toàn quận). Khi mưa lớn xảy ra ngập úng cục bộ nhiều nơi (như trận mưa năm 2008 gần 400mm gây ngập sâu trên dưới 1m kéo dài). Về thoát nước bẩn, hệ thống cống xây dựng từ lâu đời, chắp vá; tỷ lệ đường cống phục vụ bình quân mới đạt 0,2 m/người (rất thấp so với mức 2 m/người ở các nước công nghiệp). Đa phần nước thải sinh hoạt và sản xuất (chỉ khoảng 5% được xử lý) xả trực tiếp vào hệ thống chung dẫn đến ô nhiễm hữu cơ nặng nề trên 4 con sông:

Chỉ số ô nhiễm Giá trị ghi nhận tại các sông thuộc quận Hoàng Mai Ghi chú so với quy chuẩn
Amoni ($NH_4^+$) Vượt 12 – 59 lần Vượt rất cao so với giới hạn cho phép
$BOD_5$ 35 – 220 mg/l Nước sông luôn trong tình trạng yếm khí
COD 52 – 306 mg/l Cao gấp 1,5 – 1,9 lần tiêu chuẩn cho phép
Lưu lượng xả sông Tô Lịch Khoảng 140.000 $m^3$/ngày đêm Hầu hết chưa qua xử lý
Lưu lượng xả sông Kim Ngưu 36.000 $m^3$/ngày (Lò Đúc) + 12.000 $m^3$/ngày (Vĩnh Tuy) Nồng độ oxy hòa tan rất thấp (1 mg/l)

Để khắc phục dòng chảy, năm 2018 UBND quận và Xí nghiệp Thoát nước số 3 đã triển khai nạo vét nhiều tuyến cống ngầm trọng yếu:

STT Tuyến phố thực hiện Khối lượng nạo vét (m) Địa bàn / Mục tiêu phục vụ
1 Đường Lĩnh Nam (cầu Tân Khai đến ngõ 183A) 189,0 Thoát nước cho đường Lĩnh Nam
2 Đường Ngọc Hồi 300,0 Thoát nước cho đường Ngọc Hồi
3 Đường Giải Phóng 350,0 Thoát nước cho đường Giải Phóng
4 Cống trên mương Huyện 30,0 Phục vụ các phường Trần Phú, Lĩnh Nam, Thanh Trì, Vĩnh Hưng
5 Cống trên hè phố Vĩnh Hưng 22,0 Thoát nước đường Vĩnh Hưng và một phần phường Vĩnh Hưng
6 Cống trên mương Hoàng Văn Thụ 14,4 Phục vụ phường Hoàng Văn Thụ, Tương Mai, đường Hoàng Mai
7 Tuyến rãnh đường Lĩnh Nam (ngõ 183 đến chợ Vĩnh Hưng) 125,0 Thoát nước đường Lĩnh Nam
8 Tuyến rãnh đường Lĩnh Nam (sợi Hà Nội đến Cầu Voi) 168,0 Thoát nước đường Lĩnh Nam
9 Tuyến rãnh phố Tân Mai 185,8 Thoát nước phường Tân Mai
10 Tuyến rãnh phố Hoàng Mai 186,5 Thoát nước phường Hoàng Văn Thụ
11 Tuyến rãnh đường Đông Thiên 172,6 Thoát nước phường Vĩnh Hưng
12 Tuyến cống phố Tân Mai 182,6 Thoát nước phường Tân Mai

Chương 2 cũng phân tích những hạn chế về tổ chức bộ máy (quản lý chồng chéo, hơn 118 km cống ngõ xóm chưa bàn giao quản lý chính thức), năng lực cán bộ ban quản lý dự án còn thiếu kinh nghiệm, tiến độ nhiều dự án cống hóa còn chậm (mương Giáp Nhị, Vĩnh Tuy, Mai Động, Hải Hà, Hưng Ký; cống D750 đường Vành đai 3; đường 2,5 Tân Mai).

Chương 3. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý hệ thống thoát nước quận Hoàng Mai, TP. Hà Nội

Chương 3 chỉ ra các cơ hội (chủ trương xã hội hóa, đồng bộ hạ tầng) và thách thức (mục tiêu mở rộng phạm vi phục vụ HTTN lên 90 – 100%, xóa bỏ ngập úng mùa mưa). Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp toàn diện:

  1. Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý: Phân định rõ trách nhiệm giữa các cơ quan chuyên môn và UBND cấp phường; chuyển đổi Công ty Thoát nước Hà Nội theo hướng hoạt động tự chủ hạch toán và nâng cao chất lượng dịch vụ; củng cố năng lực Xí nghiệp Thoát nước số 3 trong công tác ứng trực bão úng, bố trí bơm di động CP10, chốt trực phân luồng giao thông và nạo vét đồng bộ với các Xí nghiệp 1, 4, 5.
  2. Cơ chế và chính sách: Ban hành quy chế thống nhất một đầu mối quản lý hồ điều hòa; siết chặt quy định đấu nối thoát nước hộ gia đình; xây dựng cơ chế tài chính bền vững thông qua thu phí nước thải sinh hoạt (tối đa 10% giá bán nước sạch) và phí nước thải dịch vụ - thương mại; điều chỉnh tỷ lệ điều tiết nguồn thu phí thoát nước giữ lại cho địa phương; tăng cường thu hút vốn ODA, vốn vay ưu đãi quốc tế (WB, ADB, Thụy Sỹ).
  3. Tuyên truyền và đào tạo: Công khai quy hoạch và kế hoạch duy tu hạ tầng; phát động phong trào toàn dân qua các đoàn thể để chấm dứt xả rác xuống sông mương; mở các khóa đào tạo nâng cao năng lực kỹ thuật và quản lý cho đội ngũ cán bộ, kỹ sư đô thị.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Đánh giá năng lực vận hành công trình: Dự án thoát nước Hà Nội giai đoạn 2 đã nâng công suất trạm bơm Yên Sở lên 90 $m^3$/s, thi công hoàn chỉnh 7 cửa điều tiết/xả lũ, hoàn thành kè và cải tạo sông Kim Ngưu.
  • Rút ngắn thời gian úng ngập: Với các trận mưa lượng mưa trên 50mm, thời gian tiêu thoát nước tại các điểm nóng (đường Hoàng Mai, Giáp Nhị, Vĩnh Hưng) đã giảm từ 45 – 60 phút (năm 2018) xuống còn 20 – 30 phút (năm 2019).
  • Thực hiện thủ tục quản lý nhà nước: Đến tháng 10/2019, các phòng ban chuyên môn quận đã thẩm định trình phê duyệt 08 giấy phép tài nguyên nước, 01 phương án cắm mốc hành lang bảo vệ hồ chứa, 01 phương án bảo vệ đập và 05 hồ sơ kê khai cấp quyền khai thác nước.

Giải pháp đề xuất

  • Thiết lập quy trình vận hành ứng trực phân cấp rõ ràng theo từng vị trí ngập úng cục bộ kết hợp phương tiện cơ giới hút nước di động.
  • Quy định cụ thể quy chuẩn kỹ thuật đấu nối cống dân sinh vào mạng lưới cống chung để tránh phá vỡ kết cấu thành cống.
  • Đề xuất mô hình tự chủ tài chính cho đơn vị thoát nước kết hợp chính sách điều chỉnh nguồn thu từ phí thoát nước và xử lý nước thải.

Đóng góp của đề tài

Khóa luận đã bổ sung bức tranh thực tiễn chi tiết về công tác quản lý thoát nước tại một quận cửa ngõ đặc thù có 4 con sông tiêu thoát chính của Hà Nội. Tác giả đã tổng hợp được các dữ liệu kỹ thuật, số liệu nạo vét và hiện trạng ô nhiễm mặt nước cụ thể từ địa bàn quận Hoàng Mai trong giai đoạn 2015 – 2020, chỉ ra được những khoảng trống trong việc quản lý cống ngõ xóm và phân chia thẩm quyền giữa các đơn vị.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các số liệu thống kê hành chính, dữ liệu quản lý thứ cấp tại Phòng Quản lý đô thị và Xí nghiệp Thoát nước số 3 đến năm 2020. Nghiên cứu chưa thực hiện được các khảo sát thực nghiệm đo đạc chất lượng nước quy mô lớn trên toàn bộ hệ thống ao hồ nhỏ trong ngõ xóm hoặc phân tích mô hình thủy lực phức tạp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng đánh giá hiệu quả vận hành thực tế của các dự án cống hóa và trạm xử lý nước thải tập trung sau khi hoàn thiện giai đoạn 2; nghiên cứu ứng dụng mô hình số hóa và công nghệ thông tin trong việc quản lý tài sản, giám sát mực nước tự động tại các hồ điều hòa và cống ngầm trên địa bàn quận đến năm 2030.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên các ngành Quản lý đô thị, Kinh tế đô thị, Kỹ thuật môi trường và Quản trị hạ tầng đô thị khi thực hiện đồ án, khóa luận tốt nghiệp về thoát nước và chống ngập úng.
  • Cán bộ quản lý tại Phòng Quản lý đô thị, Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp quận, huyện trong việc tham khảo mô hình phân công nhiệm vụ, quản lý hồ sơ tài nguyên nước và xây dựng kế hoạch duy tu nạo vét cống rãnh.
  • Các đơn vị dịch vụ công ích đô thị tham khảo kinh nghiệm tổ chức ứng trực mưa bão và phối hợp liên ngành giải tỏa lấn chiếm công trình thoát nước.

Câu hỏi thường gặp

1. Quận Hoàng Mai có đặc thù tự nhiên nào ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống thoát nước?

Quận Hoàng Mai nằm ở vùng trũng phía Nam thành phố với cao độ trung bình từ 4 - 5m, dốc nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Đây là nơi tiếp nhận toàn bộ nước thải và nước mưa của khu vực nội đô tập kết về trạm bơm đầu mối Yên Sở. Quận có 4 tuyến sông chính chảy qua với tổng chiều dài 18 km gồm sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét và sông Kim Ngưu, đóng vai trò là các trục tiêu thoát nước chính.

2. Mạng lưới hạ tầng kỹ thuật do Xí nghiệp Thoát nước số 3 quản lý trên địa bàn quận năm 2019 có quy mô như thế nào?

Theo số liệu năm 2019, Xí nghiệp Thoát nước số 3 quản lý 166,506 km cống rãnh các loại; 2.075 ga thu; 2.979 ga thăm; 1.509 ga thăm thu kết hợp; 20,219 km mương (33 tuyến); 6,65 km sông (Kim Ngưu, Sét); 14 hồ điều hòa; 4 trạm bơm cục bộ; 6 cửa phai điều tiết và 120,637 km cống rãnh ngõ xóm theo phân cấp.

3. Thực trạng ô nhiễm nguồn nước mặt tại các sông trên địa bàn quận nghiêm trọng ra sao?

Do 95% lượng nước thải sinh hoạt và sản xuất xả trực tiếp vào hệ thống chung mà không qua xử lý, nước tại các con sông bị ô nhiễm hữu cơ nặng nề. Nồng độ amoni ($NH_4^+$) tại các sông cao gấp 12 – 59 lần quy chuẩn cho phép; $BOD_5$ dao động từ 35 – 220 mg/l; COD từ 52 – 306 mg/l (cao gấp 1,5 – 1,9 lần tiêu chuẩn). Sông Tô Lịch tiếp nhận khoảng 140.000 $m^3$/ngày đêm nước thải chưa xử lý, khiến lòng sông luôn trong tình trạng yếm khí và nghèo oxy.

4. Thời gian tiêu thoát nước mưa tại các điểm ngập úng quận Hoàng Mai đã được cải thiện như thế nào trong giai đoạn 2018 - 2019?

Sau khi triển khai các dự án nạo vét, nâng công suất trạm bơm Yên Sở lên 90 $m^3$/s và bố trí máy bơm di động CP10 tại các điểm nghẽn (đường Vĩnh Hưng, phố Giáp Nhị, đường Hoàng Mai), đối với các trận mưa có lượng mưa trên 50mm, thời gian rút nước đã giảm từ mức 45 – 60 phút (năm 2018) xuống còn 20 – 30 phút sau mưa (năm 2019).

5. Tác giả đề xuất chính sách gì để tạo nguồn thu tài chính cho công tác thoát nước?

Tác giả đề xuất thu phí nước thải sinh hoạt tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá bán nước sạch (tối đa không quá 10% giá bán chưa thuế GTGT); đối với các hộ tự khai thác nước thì tính phí dựa trên mức tiêu thụ bình quân. Đối với cơ sở dịch vụ - thương mại, mức phí được xác định dựa trên khối lượng nước xả, nồng độ chất ô nhiễm và chi phí xử lý. Đồng thời, tác giả kiến nghị điều chỉnh tỷ lệ điều tiết nguồn thu phí thoát nước giữ lại cho ngân sách địa phương để có đủ kinh phí duy tu, cải tạo mạng lưới.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Hồng Anh đã phản ánh toàn diện thực trạng công tác quản lý hệ thống thoát nước tại quận Hoàng Mai giai đoạn 2015 – 2020, làm nổi bật bức tranh phức tạp giữa tốc độ đô thị hóa nhanh và sự quá tải của hạ tầng kỹ thuật. Mặc dù các cấp chính quyền đã nỗ lực triển khai nạo vét cống rãnh và nâng cấp trạm bơm đầu mối Yên Sở giúp giảm đáng kể thời gian ngập úng cục bộ, hệ thống thoát nước chung của quận vẫn đang đối mặt với nguy cơ ô nhiễm nặng nề do thiếu trạm xử lý nước thải tập trung và cơ chế quản lý cống ngõ xóm chưa đồng bộ. Các nhóm giải pháp về kiện toàn bộ máy, hoàn thiện chính sách thu phí thoát nước và xã hội hóa đầu tư được đề xuất có giá trị thực tiễn cao, đóng góp cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch và quản lý đô thị quận Hoàng Mai hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030.