Chương 1: Quá trình quang phân hạch để tạo ra chùm đồng vị phóng xạ giàu neutron. ● Chương 2: Bức xạ hãm. ● Chương 3: Mô phỏng quá trình tạo bức xạ hãm và mô phỏng suất lượng quang phân hạch của 238U gây bởi chùm bức xạ hãm có năng lượng cực đại 50 MeV. QUÁ TRÌNH QUANG PHÂN HẠCH ĐỂ TẠO RA CHÙM ĐỒNG VỊ PHÓNG XẠ GIÀU NEUTRON.
Giới thiệu Để nghiên cứu các hạt nhân nằm xa đường bền, chúng ta cần có chùm ion phóng xạ được tách chọn lọc theo khối lượng có cường độ lớn và không bị lẫn với các hạt nhân đồng khối khác. Để tạo ra chùm đồng vị phóng xạ như thế, các phòng thí nghiệm trên thế giới đang dùng một trong hai phương pháp sau: (1) ISOL (Isotope separation online – tách đồng vị online) và (2) In-flight sử dụng phản ứng phân mảnh. Sơ đồ nguyên lý của hai phương pháp trên được mô tả trên hình 1. Kỹ thuật tách đồng vị online (ISOL techinique – Isotope separation online) Kỹ thuật ISOL trong việc tạo ra các chùm đồng vị phóng xạ lần đầu tiên được sử dụng tại Copenhaghen cách đây hơn 50 năm.
Sau đó, kỹ thuật này đã nhanh chóng được áp dụng cho nhiều dự án lớn tại nhiều phòng thí nghiệm trên thế giới như dự án ALTO tại Viện hạt nhân Orsay, SPIRAL-2 tại GANIL, TRIUMP, LOUVAIN-la-NEUVE. Nội dung chính của phương pháp có thể được mô tả như sau: một chùm hạt được gia tốc từ máy gia tốc sẽ bắn vào một bia dày để gây ra phản ứng hạt nhân, các sản phẩm phản ứng sẽ bị hãm, nhiệt hóa, trung hòa về điện chính trong bia. Sau đó, các sản phẩm này sẽ khuếch tán nhiệt ra khỏi bia bay vào nguồn ion hóa để tái ion hóa chọn lọc và được phân tách khỏi các đồng vị khác sử dụng khối phổ kế từ và có thể tiếp tục được gia tốc.1: Sơ đồ kỹ thuật tách đồng vị online và In-flight [1] Trong kỹ thuật này, quá trình phân hạch của các hạt nhân actinide gây bởi nơtron nhiệt, nơtron nhanh, proton hay photon hay phản ứng vỡ vụn (spallation) trên các bia dày thường được sử dụng (xem hình 1.Cường độ của chùm đồng vị phóng xạ mà sau khi phân tách phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Nó có thể được mô tả bằng công thức sau: I = φ.1) t arg et source separ det Trong đó, φ là thông lượng của chùm hạt tới gây phản ứng, σ là tiết diện phản ứng, N là mật độ hạt nhân bia, εtarget, source, separ, det là hiệu suất liên quan đến bia, nguồn ion hóa, phổ kế từ và hệ đo.
Có thể nhận thấy rằng, ưu điểm chính của việc sử dụng bia dày là số hạt nhân bia lớn, kéo theo cường độ chùm đồng vị phóng xạ tạo thành cũng sẽ lớn hơn nếu bia mỏng được sử dụng. Tuy nhiên, cũng chính vì bia dày được sử dụng nên trong kỹ thuật này, chúng ta có thể gặp khó khăn trong việc thu nhận chùm đồng vị phóng xạ sạch do có nhiều hạt nhân đồng khối được tạo ra đồng thời trong bia. Ngoài ra, cũng cần phải kể đến việc các đồng vị sống ngắn được tạo ra cần phải khuếch tán ra khỏi bia dày một cách nhanh nhất với hiệu suất cao. Thêm vào đó, trong quá trình khuếch tán trong bia, các đồng vị phóng xạ tạo thành có thể bị trung hòa về điện, vì vậy, để có thể phân tách chúng ra khỏi các đồng vị khác, chúng ta cần phải tái ion hóa chúng.
Chính vì thế, trong kỹ thuật ISOL, các nghiên cứu và phát triển liên quan đến bia và nguồn ion hóa là hết sức quan trọng nhằm tối ưu hóa quá trình tạo ra sản phẩm, tăng hiệu suất khuếch tán sản phẩm ra khỏi bia, chọn lọc sản phẩm mà chúng ta cần quan tâm. Các chi tiết liên quan đến việc phát triển và chế tạo bia phản ứng có thể tìm thấy trong tài liệu [2]. Các nguồn ion hóa thường được sử dụng đến nay là: (1) Nguồn ion hóa plasma, (2) Nguồn ion hóa bề mặt, (3) Nguồn ion hóa laser. Biểu diễn sơ đồ nguyên lý của các nguồn ion hóa nói trên.
Chi tiết về các nguồn ion hóa này sẽ được mô tả chi tiết dưới đây.Các vùng hạt nhân có thể tạo ra từ quá trình phân hạch 1. Nguồn ion hóa Hình 1.Sơ đồ nguyên lý của (1) nguồn ion hóa bề mặt, (2) Nguồn ion hóa lazer, (3) Nguồn ion hóa plasma [3] Nguồn ion hóa plasma nhiệt độ cao. Đối với đồng vị của các nguyên tố có thế năng ion hóa Wi> 7 eV và để tạo ra các ion có điện tích > 1+, nguồn ion hóa sự dụng sự va chạm của các electron thường được sử dụng. Trong đó, các nguyên tử hay ion sẽ tương tác với electron năng lượng cao và mất đi một hay vài electron lớp ngoài.
Trong nguồn ion hóa plasma, sự ion hóa do quá trình va chạm với các electron được sử dụng để ion hóa cá nguyên tử ở pha khí. Chùm electron được tạo ra do quá trình phóng điện trong môi trường áp suất thấp. Theo cách này, plasma được tạo ra và giam giữ các ion tránh cho quá trình va chạm giữa ion với thành của buồng ion hóa và bị tái trung hòa. Nói chung, tính chọn lọc của loại nguồn ion hóa này không cao do phổ năng lượng của electron là rất rộng và cho phép ion hóa hầu như toàn bộ các nguyên tố đi vào buồng ion hóa của nguồn.
Nguồn ion hóa bề mặt Khi một nguyên tử với thế năng ion hóa Wi thấp va chạm với bề mặt kim loại nóng có work function φ lớn, khi đó nguyên tử có khả năng chuyển một electron hóa trị cho kim loại và trở thành ion. Hiệu suất ion hóa tương ứng với quá trình này có thể được tính bằng phương trình Saha-Langmuir: (1.2) Trong đó go, g+ là trọng số thống kê của nguyên tử ở trạng thái cơ bản và trạng thái ion, k là hằng số Bolzmann và T là nhiệt độ (K). Trên thực tế, nguồn ion hóa bề mặt thường được sử dụng để ion hóa các nguyên tố có thế năng ion hóa thấp, vật liệu được sử dụng có work function φ lớn và được đốt nóng ở nhiệt độ cao (~ 20000C) như Ta (φ = 4. Trên thực tế, nguồn ion hóa bề mặt có tính chọn lọc cao nếu thế năng ion hóa của các nguyên tử lân cận với nguyên tử cần ion hóa lớn hơn rất nhiều so với giá trị này của nguyên tử mà chúng ta cần quan tâm.4 biểu diễn thế năng ion hóa của các nguyên tố trong bảng tuần hoàn Medeleev.Thế năng ion hóa như là hàm của số nguyên tử Z.
Nguồn ion hóa laser. Nguồn ion hóa laser đã được sử dụng rất thành công cho kỹ thuật ISOL và thỏa mãn tất cả các yếu tố cần có của một nguồn ion hóa như: hiệu suất, tính chọn lọc, nhanh. Hiện nay, nguồn ion hóa laser đã và đang được sử dụng tại các thiết bị tạo chùm đồng vị phóng xạ như: IRIS (Gatchina), ISOLDE (CERN), LISOL (Leuven), TRIUMF (Vancouver)… nhằm tạo ra các chùm đồng vị phóng xạ ít bị nhiễm bẩn đồng khối. Nguyên lý hoạt động của nguồn ion hóa laser cộng hưởng (Resonance ionization laser ion source, RILIS) có thể được mô tả ngắn gọn như sau: electron hóa trị ở lớp vỏ nguyên tử sẽ bị kích thích bởi quá trình hấp thụ cộng hưởng tia laser qua một số bước trung gian lên vùng liên tục.
Vị trí của các trạng thái kích thích là khác nhau cho mỗi nguyên tử, vì vậy việc điều chỉnh bước sóng laser phù hợp sẽ ion hóa chọn lọc các nguyên tố chúng ta quan tâm với tính chọn lọc rất cao. Nguồn ion hóa cộng hưởng laser có thể sử dụng cho rất nhiều nguyên tố khác nhau (xem hình 1.Các nguyên tố có thể được ion hóa sử dụng nguồn ion hóa laser. Trong phần trước, chúng tôi đã để cập đến kỹ thuật ISOL sử dụng bia dày và các nguồn ion hóa có thể được sử dụng. Tuy nhiên, như đã nêu, nhược điểm của việc sử dụng bia dày là các đồng vị phóng xạ tạo thành sẽ bị mất năng lượng do va chạm với vật liệu bia và dừng lại trong bia.
Quá trình này làm giảm hiệu suất khuếch tán sản phẩm phản ứng ra khỏi bia, đặc biệt là đối với các nguyên tố có nhiệt độ nóng chảy cao như Colbalt hay Niken…Để tạo ra các chùm đồng vị phóng xạ này, thay cho việc sử dụng bia dày, chúng ta có thể sử dụng bia mỏng được đặt trong buồng khí (thường là chứa các khí hiếm, ví dụ như He hay Ar) để hãm và nhiệt hóa các sản phẩm phản ứng tạo ra và giật lùi ra khỏi bia cũng như chuyển chúng đến phần gia tốc của phổ kế từ bằng luồng khí tạo ra do hệ thống bơm, kỹ thuật này thường được gọi là kỹ thuật IGISOL (Ion guide Isotope Separation Online) [4]. Sự suy giảm cường độ của chùm đồng vị phóng xạ có thời gian sống ngắn do tốc độ của luồng khí thấp có thể được khắc phục bằng việc sử dụng thêm một trường điện từ trong buồng khí để đẩy các ion này về phía cửa sổ lối ra của buồng khí. Thời gian chuyển động trong buồng khí có thể rất nhanh (cỡ 10 ms) đủ để một phần của sản phẩm phản ứng thoát ra ngoài ở trạng thái ion 1+.6, chúng tôi mô tả kỹ thuật IGISOL dưới dạng cơ bản. Cường độ điện trường được sử dụng thường là 500 V/cm.
Trong kỹ thuật này, bề dày của bia được lựa chọn bằng với quãng chạy của ion giật lùi trong bia, giá trị này cỡ 15 mg/cm2 đối với mảnh phân hạch. Quá trình hãm ion trong buồng khí có thể làm thay đổi trạng thái điện tích của ion do sự va chạm trao đổi điện tích, quá trình này phụ thuộc vào vận tốc của ion. Giả thiết rằng, chất khí chúng ta sử dụng là sạch 100%, ion phóng xạ có thể đạt tới trạng thái điện tích 2+ do quá trình va chạm với He vì hầu hết các nguyên tố có thể ion hóa bậc hai nhỏ hơn thế ion hóa bậc một của He. Đối với Ar, các ion có thể đạt đến trạng thái điện tích 1+.
Tuy nhiên, những pha tạp như H2, O2, H2O cỡ nhỏ hơn ppm cũng có thể dễ dàng làm cho ion đạt trạng thái 1+. Ngoài ra, quá trình ion hóa của chất khí do sự va chạm với các ion và chùm hạt từ máy gia tốc có thể dẫn đến quá trình tái kết hợp với sự tham gia của electron, ion và nguyên tử khí trung hòa. Bên cạnh đó, còn có nhiều quá trình khác nhau có thể xảy ra khi ion chuyển động trong buồng khí như quá trình mất ion do va chạm với thành buồng khí… [5].