PHẦN MỞ ĐẦU 8 Hiện tượng oxy hóa dầu, mỡ thực phẩm thường xảy ra nhất ở các xứ nóng hoặc những nơi có độ ẩm cao. Đây chính là nguyên nhân chủ yếu gây nên hiện tượng dầu, mỡ thực phẩm bị ôi chua. Do vậy dầu, mỡ bị ôi có thể thực hiện qua các biến đổi hóa học như sau : • Hiện tượng thủy phân có thể do nguyên liệu hoặc do sản phẩm thực phẩm có độ ẩm cao. Ngoài ra các loại dầu, mỡ có chuỗi carbon ngắn như dầu dừa (C 12 chiếm tỉ lệ 48- 51%) cũng dễ bị thủy phân.
Do vậy dầu dừa được sử dụng trong thực phẩm với một tỉ lệ phối chế rất thấp. • Hiện tượng thủy phân có thể do tác dụng của men lipaza như ở dầu cám gạo. Ở độ ẩm thích hợp men lipaza đóng vai trò xúc tác làm quá trình thủy phân xảy ra nhanh. Do vậy với dầu cám gạo thường có chỉ số Acid (AV) tăng nhanh nếu chưa kịp xử lý, sau khi ép hoặc trích ly dung môi.
• Hiện tượng oxy hóa với men lipoxidaza tác dụng chủ yếu trên các triglyceride có nhiều nối đôi như trường hợp thường gặp ở các loại mỡ động vật như mỡ heo, mỡ cá …Với mỡ heo có (C 18:1 và C 18:2 khoảng 56- 57%), mỡ cá basa có (C 18:1 và C18:2 khoảng 60-61%). Hiện tượng oxy hóa hóa học đặc biệt thường xảy ra tương đối dễ dàng trên các chuỗi có nối đôi của các acid béo chưa no, nhất là ở điều kiện nhiệt độ, xúc tác thích hợp (như các kim loại thuộc nhóm chuyển tiếp như Fe 2+, Cu 2+, Zn 2+…) tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình oxy hóa xảy ra theo cơ chế oxy hóa gốc tự do. Hiện tại theo xu thế trong nước cũng như thế giới, nguồn cung cấp chất béo bổ sung vaøo thực phẩm chủ yếu là dầu đậu nành (dầu đậu tương) có tỉ lệ acid béo chưa no chiếm khoảng 85,3%, rất có lợi cho sức khỏe (do hệ số tiêu hóa cao). Ðoù laø mục tiêu của đề tài.
Nghiên cứu quá trình oxy hóa của dầu nành sau chế biến, baûo quản và hướng khắc phục quá trình oxy hóa dầu này bằng chất chống oxy hóa tự nhiên. Trình tự tiến hành nghiên cứu các vấn đề được thực hiện như sau : 9 • Nghiên cứu về lý thuyết của cơ chế oxy hóa dầu naønh theo gốc tự do. • Theo dõi quá trình tự oxy hóa dầu nành chưa chế biến. • Theo dõi quá trình tự oxy hóa dầu nành sau tinh luyeän (chưa có chất chống oxy hóa).
• Nghiên cứu quá trình tự oxy hóa dầu nành sau tinh luyeän (có chất chống oxy hóa tổng hợp). • Nghiên cứu quá trình tự oxy hóa dầu nành sau tinh luyeän bằng chất chống oxy hóa tự nhiên ở nồng độ thích hợp, đó cũng là mục tiêu chính của đề tài nhằm đảm bảo chất lượng ổn định dầu sau tinh luyện và an toàn về thực phẩm của người tiêu dùng. Đặc điểm của đề tài nghiên cứu là dùng chất bảo quản tự nhiên có sẵn trong nước, thay thế chất bảo quản tổng hợp hiện các nhà máy sản xuất dầu thực vật trong nước đang sử dụng như BHA, BHT và TBHQ … 10 PHẦN 1 TỔNG QUAN 11 Dầu, mỡ là thực phẩm không thể thiếu trong đời sống do quá trình đốt cháy tạo ra năng lượng (9,40 Kcal/g), so với các thành phần khác như protide (5,60 Kcal/g) và glucide (4,10Kcal/g). Nhằm cung cấp năng lượng cho hoạt động của sự sống con người.
Do vậy việc đẩy mạnh ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm thực phẩm không thể tách rời với việc tìm hiểu và phát triển dầu thực vật đạt chất lượng, số lượng và an toàn cung cấp cho thị trường hiện nay là rất cần thiết, ở một số nước có nền công nghiệp tiên tiến, ngành công nghiệp sản xuất và chế biến dầu thực vật phát triển mạnh mẽ và trở thành một ngành quan trọng trong công nghiệp sản xuất và chế biến thực phẩm. Bên cạnh các cơ sở sản xuất được trang bị hiện đại, nhiều áp dụng khoa học tiên tiến được đưa vào ứng dụng từ các trường đại học, viện nghiên cứu đều tập trung vào nghiên cứu với mục đích nâng cao chất lượng sản phẩm ở nhiều điều kiện khác nhau, nhằm giảm thiểu những mối nguy hại ở sản phẩm sau chế biến với mục đích có lợi về sức khỏe cho người tiêu dùng, đó cũng là mục tiêu của đề tài nghiên cứu cơ bản cho quá trình chế biến và bảo quản dầu sau tinh luyện.1- TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ : 1.1- Tình hình dầu thực vật trong nước : Ngành công nghệ dầu thực vật đã có quy hoạch tổng thể trình Bộ Công Nghiệp từ năm 1995, nhưng chưa có cấp thẩm quyền phê duyệt. Hiện nay, nhu cầu trong nước về dầu thực vật ngày càng tăng với mức tiêu thụ bình quân đầu người tăng từ 0,3 kg/năm vào năm 1990 lên 0,7 kg/năm vào năm 1995 và 2,5 kg/năm vào năm 2000 và đạt 4 kg/năm vào năm 2005 dự án 6 - 8 kg/năm vào 2010. Công suất toàn ngành năm 1999 là 240 ngàn tấn/năm, mức huy động 75,3% năm 1999 và ước đạt 84,6% năm 2000 năm 1999 toàn ngành sản xuất được gần 200.000 tấn dầu tinh luyện tăng 200% so với năm 1998.
Đặc biệt, năm 1998 ngành dầu thực vật đã xuất khẩu đạt 10,6 triệu USD và 12 năm 1999 ước đạt 21 triệu USD. Về nguyên liệu, hiện nay nguyên liệu trong nước mới đáp ứng được 10% do sản lượng nhỏ, phân tán giá thành cao nên toàn ngành phải nhập 90% nguyên liệu từ các nguồn nguyên liệu như dầu cọ, dầu nành, dầu cải … 1.2- Tình hình tiêu thụ dầu trên thế giới : Dự báo cung cầu hạt có dầu trên thế giới năm 2005 - 2006 tổng sản lượng loại hạt có dầu chủ yếu của thế giới năm 2005 - 2006 dự báo so đạt 389,29 triệu tấn, tăng mạnh so với 380,14 triệu tấn của năm 2004 - 2005 trong đó sản lượng cơm dừa so đạt 5,38 triệu tấn, hạt bông 42,49 triệu tấn, nhân cọ 9,55 triệu tấn, hạt cải dầu 46,68 triệu tấn, đậu nành 222,76 triệu tấn và hạt hướng dương 29,82 triệu tấn. Tổng xuất khẩu bảy loại hạt có dầu trên thế giới năm 2002 - 2006 dự báo đạt 77,86 triệu tấn, tăng so với 74,94 triệu tấn của năm 2004 - 2005. Tổng sản lượng bảy loại hạt có dầu đem trích chiết trên thế giới trong năm 2005 - 2006 dự báo đạt 311,39 triệu tấn, tăng so với 301,61 triệu tấn của kết quả năm trước, trong đó riêng đậu nành đạt 183,84 triệu tấn.
Tổng dự trữ bảy loại hạt có dầu kể trên thế giới cuối niên vụ 2005 - 2006 dự báo đạt 62,59 triệu tấn tăng so với 52,19 triệu tấn cuối niên 2004 - 2005. Sản xuất và tiêu dùng hạt có dầu ở Trung Quốc năm 2005 - 2006 dự báo đạt 54,07 triệu tấn giảm so với 57,97 triệu tấn của năm 2004 - 2005. Trong đó sản lượng đậu nành so đạt 17,0 triệu tấn, lạc 18,3 triệu tấn, hạt cải dầu 11,4 triệu tấn, hạt bông 10,27 triệu tấn và các loại hạt khác 1,6 triệu tấn tổng mức tiêu dùng của các loại hạt có dầu. Năm 2005 - 2006 dự báo đạt 43,13 triệu tấn so với 40,18 triệu tấn của năm 2004 - 2005.
Trong đó tiêu dùng đậu nành so đạt 27,0 triệu tấn hạt cải dầu 7,6 triệu tấn, lạc 2,79 triệu tấn. Tiêu dùng các loại dầu thực vật năm 2005 - 2006 dự báo đạt 21,76 triệu tấn, tăng so với 20,40 triệu tấn của năm trước trong đó lượng dầu đậu nành đạt 8,37 triệu tấn. 13 Xuất khẩu lạc của Trung Quốc năm 2005 - 2006 dự báo đạt 950 ngàn tấn/năm so với 1,02 triệu tấn của 2004 - 2005 nhập khẩu đậu nành vào Trung Quốc 2005 - 2006 dự báo đạt 27,5 triệu tấn tăng so với 25,8 triệu của năm trước (Feb, 2006). Tổng sản lượng hạt có dầu ở Ấn Độ năm 2005 - 2006 dự báo đạt 29,9 triệu tấn tăng nhẹ so với 29,4 triệu tấn của năm 2004 - 2005.
Trong đó (tính triệu tấn/năm) : Bông vải 7,9 ; lạc 6,6 ; đậu nành 6,0 ; hạt cải 6,8 và các loại hạt có dầu khác chiếm 2,6 triệu tấn/năm. Tổng mức tiêu thụ các loại hạt có dầu đạt 9,7 triệu tấn của năm 2005 - 2006 tăng nhẹ so với 9,6 triệu tấn của năm trước. Tiêu dùng năm 2005 - 2006 dự báo tăng đạt 12,2 triệu tấn tăng so với 12,1 triệu tấn của năm 2004 - 2005. Dự báo 2005 - 2006 nhập 3,5 triệu tấn dầu cọ, 1,9 triệu tấn dầu nành, 95 ngàn tấn nhân cọ.
Xuất khẩu 100 ngàn tấn lạc, 24 triệu tấn bột khô đậu tương và 550 ngàn tấn bột khô hạt cải dầu (Oil seeds WM & T, Feb/16/2006). Cung cầu so cân đối trong năm 2005 - 2006. Sản lượng dầu thực vật trên thế giới 2005 - 2006 chắc chắn so tăng ít nhất 4 triệu tấn, nhờ sản lượng hạt có dầu tăng mạnh ở bán cầu Nam. Những yếu tố chính góp phần làm tăng sản lượng dầu thực vật bao gồm sản lương đậu nành so tăng 1,5 triệu tấn sản lượng dầu cọ và dầu hướng dương mỗi loại so tăng 1 triệu tấn.
Trong khi đó nhu cầu dầu cũng so tăng khoảng 4 - 4,5 triệu tấn. Như vậy sản lượng và nhu cầu so tăng lên ở mức cung cầu bằng nhau. Mức tăng của dầu cọ niên vụ 2005 - 2006 so đạt 1 triệu tấn. Song dự trữ loại dầu này còn nhiều (đạt ít nhất trên 1 triệu tấn) và lượng mua vào của các nơi nhập khẩu như Ấn Độ thấp, khiến cho giá dầu cọ vẫn ở mức cao 1400 - 1450 Ringit/tấn suốt những tháng gần đây.
Mặt khác, những dự báo về xu 14 hướng sử dụng nhiều dầu cọ làm nhiên liệu cho sinh học cho đến nay cũng chưa trở thành hiện thực. Điều này tác động không nhỏ đến giá cả. Giai đoạn tháng 1 - 3 thường là mùa giáp hạt trong sản xuất dầu cọ và giá thường tăng. Song tháng 4 sẽ là mùa thu hoạch cao điểm, mà tới thời điểm này giá vẫn chưa tăng có nghĩa là tình hình năm nay sẽ không theo quy luật cũ, trừ khi có nhiều yếu tố khác tác động mạnh tới giá.2- MỘT SỐ LOẠI HẠT CÓ DẦU CHỦ YẾU : 1.1- Dừa : Tên khoa học là Coco Snucifera, Coco Sbutyracea.
Dừa là một đặc sản nhiệt đới. Trên thế giới dừa trồng nhiều ở các nước vùng Đông Nam Á, trong đó nhiều nhất là các tỉnh phía nam Việt Nam.