Chương 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan về PCB 1. Cấu tạo, danh pháp, phân loại, tính chất vật lý, hóa học 1. Cấu tạo Polychlorinated biphenyl (PCB) là tên gọi chung của nhóm gồm 209 hợp chất hữu cơ có công thức cấu tạo là C12H(10-n)C1n (với 1 ≤ n ≤ 10) [64].1 Công thức chung của các PCB Các phân tử PCB có kích thước theo 3 chiều (dài x rộng x cao) lần lượt là 1,4 x 0,8 x (0,4 ÷ 0,8) nm, kích thước các PCB phụ thuộc vào số lượng, vị trí clo trong phân tử PCB [76].
Danh pháp Theo IUPAC, các PCB được đánh số và gọi tên như sau: Các nguyên tử carbon được đánh số từ 1 đến 6 trên một vòng và 1’ đến 6’ trên vòng còn lại. Các vị trí 2, 2’, 6, 6’ được gọi là ortho, các vị trí 3, 3’, 5, 5’ được gọi là meta và các vị trí 4 và 4’ được gọi là para. Một phương pháp đánh số khác cũng được và sử dụng rộng rãi là đánh số theo số thứ tự từ PCB-1 đến PCB-209 được xây dựng bởi Ballschmiter & Zell [120]. Phân loại Có hai cách để phân loại các PCB là phân loại theo cấu trúc và phân loại theo mức độ clo hóa trong phân tử.
Theo cấu trúc có thể chia PCB thành hai nhóm là nhóm có cấu trúc dạng cấu trúc phẳng (planar) và cấu trúc không phẳng (coplanar). Hai loại cấu trúc này được xác định bởi góc hợp bởi hai mặt phẳng của hai vòng benzen, nếu góc này là 0o ta có cấu trúc phẳng (planar) và 90o ta có cấu trúc không 7 phẳng (coplanar) [107], [120]. Theo mức độ clo hóa có thể chia PCB thành 10 nhóm tương ứng với số nguyên tử clo từ một (monochlorobiphenyl) đến mười (decachlorobiphenyl). Số lượng đồng phân, khối lượng phân tử và % clo của các PCB theo cách phân loại dựa trên mức độ clo hóa được tổng hợp trong Bảng 1.1 Số lượng đồng phân, khối lượng phân tử và % clo của các PCB [120] Đánh số Số lượng Khối lượng CTCT Tên (Ballschmiter %Cl đồng phân phân tử & Zell) C12H9Cl Mono 03 1-3 188,65 18,79 C12H8Cl2 Di 12 4-15 233,10 31,77 C12H7Cl3 Tri 24 16-39 257,54 41,30 C12H6Cl4 Tetra 42 40-81 291,99 48,56 C12H5C5 Penta 44 82-125 326,43 54,30 C12H4Cl6 Hexa 44 126-169 360,88 58,93 C12H3C7 Hepta 24 170-193 395,32 62,77 C12H2Cl8 Octa 12 194-205 429,77 65,98 C12H1Cl9 Nona 03 206-208 464,21 68,73 C12Cl10 Deca 01 209 498,66 71,10 1.
Tính chất vật lý, hóa học Phần lớn các PCB không màu hoặc vàng nhạt, không mùi, bền với tác nhân acid, kiềm, oxi hóa, có điểm chớp cháy cao, cách điện rất tốt. Nhiệt độ nóng chảy của các PCB ở trong khoảng rộng từ 25°C (PCB-2, PCB-7, PCB-9) đến 306°C (PCB-209). Nhiệt độ bay hơi tăng từ monochlorobiphenyl chứa một nguyên tử clo (285°C) đến decachlorobiphenyl chứa mười nguyên tử clo (456°C). PCB ít tan trong nước, giá trị độ tan ở 25°C nằm trong khoảng từ 0,2 đến 4830 μg/L.
PCB tan tốt trong các dung môi không phân cực, dầu, chất béo. Hệ số Henry có xu hướng 8 giảm khi tăng số clo trong phân tử. Các PCB ít clo có áp suất hơi cao hơn đáng kể (1,0 ÷ 2,0 Pa ở 25°C của monochlorobiphenyl) so với PCB có độ clo hóa cao hơn (1,4×10−6 Pa ở 25°C của decachlorobiphenyl) [120]. PCB là một trong các nhóm chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (Persistent organic pollutant - POP) thuộc phụ lục A, C của công ước Stockholm được ký kết ngày 22/5/2001, do vậy chúng bị cấm sản xuất và sử dụng [1].
Các sản phẩm thương mại chứa PCB trước đây gồm dầu biến thế, chất lỏng truyền nhiệt, chất bôi trơn. Trong các sản phẩm này, các PCB chủ yếu ở dạng hỗn hợp của nhiều loại PCB với thành phần và tỷ lệ khác nhau. Các hỗn hợp kỹ thuật của PCB có tên gọi khác nhau ở các quốc gia, ví dụ như: Arochlor, Askarel (Mỹ, Anh), Sovtol, Sovol (Nga), Kanechlor, Pyrochlor (Nhật), Clophen (Đức), Phenoclor (Pháp). Khác với các PCB tinh khiết, các hỗn hợp thương mại của PCB (Arochlor) có màu từ vàng nhạt đến màu thẫm [120].
Tính chất vật lý của một số hỗn hợp PCB thương mại ở 25 oC được trình bày trong Bảng 1.2 Tính chất vật lý của một số Arochlor thường gặp [120] Độ tan Khối lượng Nhiệt độ Độ nhớt ở Áp suất hơi trong nước Loại phân tử 25oC bão hòa ở sôi, (oC) ở 25oC Arochlor (g/mol) (g/cm3) 25oC (mmHg) (mg/L) 1016 257,9 325 ÷ 356 1,33 4,0 × 10-4 0,4200 1221 200,7 275 ÷ 320 1,15 6,7 × 10-3 0,5900 1232 232,2 290 ÷ 325 1,24 4,1 × 10-3 0,4500 1242 266,5 325 ÷ 366 1,35 4,1 × 10-3 0,2400 1254 328,0 365 ÷ 390 1,50 7,7 × 10-5 0,0210 1260 357,7 385 ÷ 420 1,58 4,0 × 10-5 0,0027 1. Độc tính và tác động tới môi trường PCB được đưa vào và tích tụ trong cơ thể người qua đường tiêu hóa, hô hấp, tiếp xúc qua da, truyền từ mẹ sang con [64], PCB có đặc tính tích lũy sinh 9 học trong cơ thể các sinh vật, dễ dàng hấp thụ vào mô mỡ và tích tụ trong cơ thể theo chuỗi thức ăn. Đồng thời theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), có bằng chứng cho thấy rằng việc tiếp xúc với PCB có liên quan đến việc tăng nguy cơ ung thư hệ tiêu hóa, gan; ảnh hưởng đến hệ thần kinh, hệ miễn dịch, sinh sản, da liễu…[120]. Trong số 209 PCB, có 12 chất có độc tính cao đã được WHO xác định hệ số độ độc tương đương với dioxin gồm: PCB-77, PCB-81, PCB- 105, PCB-114, PCB-118, PCB-123, PCB-126, PCB-156, PCB-157, PCB-167, PCB-169, PCB-189; các PCB này có hệ số độ độc từ 0,00003 đến 0,1 đơn vị (độ độc của 2,3,7,8-TCDD được quy ước là 1) [107], [119].
Các sản phẩm chứa PCB phát tán vào môi trường dưới các dạng chất thải công nghiệp và sinh hoạt, có khả năng di chuyển, phát tán trên phạm vi rộng. PCB được tìm thấy trong đất, nước, trầm tích, một phần nhỏ trong không khí và các sinh vật sống. Ngoài ra, PCB còn được tìm thấy trong mô mỡ của động vật và con người sống ở Bắc Cực, nơi không có các hoạt động công nghiệp [120]. Trong môi trường nước, PCB ít tan mà chủ yếu là bám trên các chất rắn lơ lửng, qua quá trình sa lắng, tích tụ sẽ tập trung chủ yếu xuống lớp trầm tích.
Do ảnh hưởng của nhiệt độ, PCB sẽ hòa tan một phần vào trong môi trường nước và có thể bay hơi một phần rất nhỏ vào không khí. PCB trong nước và trong các chất rắn lơ lửng có thể phát tán rất xa theo dòng chảy nước mặt từ các điểm ô nhiễm ra các kênh, rạch, sông hồ và biển. Trong môi trường đất, trầm tích, PCB có thể tồn tại lâu dài và có thể phát tán qua các sinh vật ăn hoặc hút chất dinh dưỡng từ đất sau đó tích lũy trên cơ thể sinh vật theo chuỗi thức ăn. Trong không khí, PCB bám theo bụi, phát tán nhờ gió đồng thời rơi lắng xuống đất và nước mặt qua quá trình lắng đọng khô và lắng đọng ướt [119], [120].
Hiện trạng ô nhiễm PCB tại Việt Nam Trong quá khứ, Việt Nam không sản xuất PCB nhưng nhập khẩu thiết bị và dầu chứa PCB như dầu biến thế, dầu cách điện, dầu công nghiệp. Cũng như nhiều nước khác, PCB được sử dụng như chất lỏng điện môi trong các thiết bị điện chứa dầu như máy biến thế và tụ điện. Việt Nam nhập khẩu PCB và thiết bị chứa PCB vào cuối những năm 1940, nhưng đã kiểm soát chặt chẽ việc nhập khẩu dầu và thiết 10 bị chứa PCB vào khoảng những năm 1980 [1]. Theo báo cáo tổng quan 10 năm thực hiện Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy tại Việt Nam 2005 ÷ 2015, tính đến năm 1998, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã nhập khẩu khoảng 18.000 tấn dầu cách điện, trong đó có thể có một lượng lớn dầu chứa PCB [1].
Do không nhập khẩu thêm dầu hay thiết bị chứa PCB, vấn đề chính của Việt Nam hiện nay là quản lý và tiêu hủy an toàn thiết bị, dầu và chất thải nhiễm PCB. Với sự hỗ trợ của Dự án GEF/WB-PCB, từ năm 2012 ÷ 2014, Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp và Tập đoàn điện lực Việt Nam EVN (Bộ Công Thương) đã chủ trì, phối hợp với Tổng cục Môi trường và các bên liên quan tổ chức kiểm kê PCB trên toàn quốc. Kết quả cho thấy, khi phân tích nhanh clo trong dầu biến thế của hơn 39.000 máy biến áp, có 401 máy nghi ngờ có dầu nhiễm PCB với hàm lượng vượt ngưỡng quy định của Công ước Stockholm (50 ppm), trong đó có 112 máy có nồng độ cao trên 200 ppm [1].2 Kho lưu giữ chất thải PCB dạng contennơ [1] Đối với việc kiểm kê PCB ngoài ngành điện lực, kết quả tính đến năm 2014 cho thấy có trên 35.712 thiết bị có nghi ngờ nhiễm PCB và dự án đã tiến hành kiểm kê 9.000 máy và dầu lưu trữ, kết quả đã phát hiện tổng số 930 tấn dầu có chứa PCB. 11 Hiện nay, thiết bị, vật liệu, chất thải có chứa PCB, dầu nhiễm PCB được lưu giữ ở kho một cách an toàn.
EVN cũng đã xây dựng các kho dạng contennơ để lưu giữ vật liệu, thiết bị, chất thải có PCB [1]. Tuy nhiên, quá trình sử dụng, vận chuyển, lưu trữ có thể phát tán ra môi trường như bay hơi hoặc đốt cháy không hoàn toàn dẫn tới phát thải vào môi trường không khí, đất, nước do sự rò rỉ dầu chứa PCB từ các thiết bị khi chưa được thu gom, lưu trữ theo tiêu chuẩn. Các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy, đã phát hiện PCB trong các mẫu đất, nước, trầm tích với hàm lượng vượt ngưỡng cho phép tại một số địa điểm ở nước ta. Cụ thể, tại khu vực biển Cửa Đại - Quảng Nam nồng độ PCB trong các mẫu nước và mẫu trầm tích tương ứng nằm trong khoảng 0,2 ÷ 5,2 µg/L và 192 ÷ 1750 µg/kg [11].
Các quy chuẩn Việt Nam về PCB Hiện tại,Việt Nam đã ban hành các quy định về quản lý PCB trong chất thải, nước thải công nghiệp, lò xi măng và trầm tích. Các quy chuẩn về PCB ở Việt Nam bao gồm: - QCVN 07:2009/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại, ban hành theo Thông tư số 25/2009/TT-BTNMT ngày 16/11/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường. Theo Quy chuẩn này, PCB được xếp vào nhóm chất có thành phần nguy hại đặc biệt với ngưỡng quy định là 5 ppm.