Chương I trình bày khái nhiệm về mã độc và các thông tin liên quan như: phân loại mã độc, các loại mã độc phổ biến. Ngoài ra, các nguy cơ về An toàn thông tin liên quan đến mã độc cũng như thực trạng về An toàn thông tin trên thé giới liên quan cũng sẽ được đề cập. Tổng quan về mã độc 1.1, Khái niệm về mã độc Mã độc (Phần mềm độc hại) là bất kỳ loại phần mềm nào được thiết kế đặc biệt có chủ ý dé phá hủy dữ liệu, gây thiệt hại cho máy tính, máy chủ, máy khách hoặc mang máy tính. Phần mềm độc hại là một thuật ngữ chung được sử dụng dé mô tả vi rút, phần mềm tống tiền, phần mềm gián điệp, Trojan và bất kỳ loại mã hoặc phần mềm nào khác được xây dựng với mục đích xấu.
Phân loại ma độc Ban đầu các phần mềm độc hại được tạo ra bằng cách sống kí sinh và lây nhiễm trên các vật chủ là các chương trình có chứa các nội dung thực thi. Các dạng chương trình độc hại kiêu khác là các chương trình mã độc mà tự chúng có khả năng thực thi một cách độc lập trên các phần mềm hệ thống mà không cần kí sinh trên các vật chủ là các chương trình ứng dụng hay tệp tin. Một cách khác dé phân biệt các loại mã độc khác nhau là dựa trên mục đích và các hành vi của chung. Có 3 đặc điêm thường liên quan với các loại phân mêm độc hại là: - Mã độc tự nhân bản và nỗ lực lây nhiễm bằng việc tạo các bản sao chép mới hoặc các thê hiện của chính nó.
- Sự tăng trưởng về số lượng của phần mềm độc hại mô tả sự thay đổi tổng thé trong đó có số lượng lớn các trường hợp là do tự nhân bản. - Phần mềm độc hại ký sinh yêu cầu một số chương trình mã thực thi khác dé tồn tại. NGUYEN THỊ HOA - D17CQAT01-B 11 ĐỎ AN TOT NGHIỆP CHUONG I Dưới đây là một số loại mã độc phô biến [28]: - Virus boot: Boot virus hay còn gọi là virus boot, là loại virus lây vào boot sector hoặc master boot record của 6 đĩa cứng. Day là các khu vực đặc biệt chứa các dữ liệu dé khởi động hệ thống, nạp các phân vùng.
Boot Virus được thực thi trước khi hệ điều hành được nạp lên vì vậy nó hoàn toàn độc lập với hệ điều hành. B- Virus có nhược điểm là khó viết do không thể sử dụng các dịch vụ, chức năng có sẵn của hệ điều hành và kích thước virus bị hạn chế bởi kích thước của các sector (mỗi sector chỉ có 512 byte). Ngày nay gần không còn thấy sự xuất hiện của Boot Virus do đặc điểm lây lan chậm và không phù hợp với thời đại Internet. - Macro virus: Day là loại virus đặc biệt tan công vào chương trình trong bộ Microsoft Office của Microsoft: Word, Excel, Powerpoint.
Macro là tính nang hỗ trợ trong bộ công cụ văn phòng Microsoft Office cho phép người sử dung lưu lại các công việc cần thực hiện lại nhiều lần. Thực tế hiện nay cho thấy virus macro gan nhu da “tuyét chung”. - Scripting virus: Scripting virus là loại virus được viết bang các ngôn ngữ script (kịch ban) như VBScript, JavaScript, Batch script. Những loại virus nay thường có đặc điểm dễ viết, dé cài đặt.
Chúng thường ty lây lan sang các file script khác, thay đổi nội dung cả các file html dé thêm các thông tin quảng cáo, chèn banner. Day cũng là một loại virus phát triển nhanh chóng nhờ sự phổ biến của Internet. - File virus: Virus này chuyên lây vào các file thực thi (ví dụ file có phan mở rộng .dll) một đoạn mã dé khi file được thực thi, đoạn mã virus sẽ được kích hoạt trước và tiếp tục thực hiện các hành vi phá hoại, lây nhiễm. Loại virus này có đặc điểm lây lan nhanh và khó diệt hơn các loại virus khác do phải xử lý cắt bỏ, chỉnh sửa file bị nhiễm.
File Virus có nhược điểm là chỉ lây vào một số định dang file nhất định và phụ thuộc vào hệ điều hành. F-Virus vẫn t6n tại tới ngày nay với những biến thé ngày càng trở nên nguy hiểm, phức tạp hơn. NGUYEN THỊ HOA - D17CQAT01-B 12 ĐỎ AN TOT NGHIỆP CHUONG I - Trojan horse: Tên của loại virus này được lay theo một điền tích cổ. Trong cuộc chiến với người To-roa, các chiến binh Hy Lạp sau nhiều ngày không thể chiếm được thành đã nghĩ ra một kế, giảng hòa rồi tặng người dân thành Tơ-roa một con ngựa gỗ không lồ.
Sau khi ngựa gỗ được đưa vào thành, đêm đến các chiến binh Hy Lạp từ trong ngựa gỗ chui ra đánh chiếm thành. Đây cũng chính là cách mà các Trojan horse (gọi tắt là Trojan) áp dụng: các đoạn mã của Trojan được “che giấu” trong các loại virus khác hoặc trong các phần mềm máy tính thông thường để bí mật xâm nhập vào máy nạn nhân. Khi tới thời điểm thuận lợi chúng sẽ tiến hành các hoạt động ăn cắp thông tin cá nhân, mật khẩu, điều khiển máy tính nạn nhân. Bản chất của Trojan là không tự lây lan mà phải sử dụng phần mềm khác dé phát tán.
Dựa vào cách hoạt động ta có thể phân chia Trojan thành các loại sau: BackDoor, Adware và Spyware[27]. - BackDoor: Phần mềm BackDoor (cửa sau) là một dang Trojan khi thâm nhập vào máy tính nạn nhân sẽ mở ra một công dịch vụ cho phép kẻ tấn công điều khiển các hoạt động ở máy nạn nhân. Kẻ tan công có thé cài các phần mềm BackDoor lên nhiều máy tính khác nhau thành một mạng lưới các máy bi điều khiển — Botnet — rồi thực hiện các vụ tan công từ chối dịch vụ (DoS — Denial of Service). - Adware va Spyware: Day là loại Trojan khi xâm nhập vào máy tinh với mục đích quảng cáo hoặc “gián điệp”.
Chúng đưa ra các quảng cáo, mở ra các trang web, thay đồi trang mặc định của trình duyệt (homepage). gây khó chịu cho người sử dụng. Các phần mềm này cài đặt các phần mềm ghi lại thao tác bàn phím (keylogger), ăn cắp mật khẩu và thông tin cá nhân. - Worm (sâu máy tính): Cùng với các loại mã độc máy tính như Trojan, WannaCry, Worm (sâu máy tính) là loại virus phát triển và lây lan mạnh mẽ nhất hiện nay nhờ mang Internet.
Vào thời diém ban đâu, Worm được tao ra chỉ với NGUYEN THỊ HOA - D17CQAT01-B 13 ĐỎ AN TOT NGHIỆP CHUONG I mục đích phat tán qua thư điện tử — email. Khi lây vào máy tinh, chúng thực hiện tìm kiếm các số địa chỉ, danh sách email trên máy nạn nhân rồi giả mạo các email để gửi bản thân chúng tới các địa chỉ thu thập được. Các email do worm tạo ra thường có nội dung “giật gân”, hoặc “hấp dẫn”, hoặc trích dẫn một email nào đó ở máy nạn nhân dé ngụy trang. Điều này khiến các email giả mạo trở nên “thật” hơn và người nhận dễ bị đánh lừa hơn.
Nhờ những email giả mạo đó mà Worm lây lan mạnh mẽ trên mạng Internet theo cấp số nhân. Bên cạnh Worm lây lan theo cách truyền thống sử dụng email, Worm hiện nay còn sử dụng phương pháp lân lan qua ô USB. Thiết bị nhớ USB đã trở nên phô biến trên toàn thế giới do lợi thế kích thước nhỏ, cơ động và trở thành phương tiện lây lan lý tưởng cho Worm. Dựa đặc điểm lây lan mạnh mẽ của Worm, những kẻ viết virus đã đưa thêm vào Worm các tính năng phá hoại, ăn cắp thông tin., Worm đã trở thành “bạn đồng hành” của những phần mềm độc hại khác như BackDoor, Adware.
- Rootkit: Rootkit ra đời sau các loại virus khác, nhưng rootkit lại được coi là một trong những loại virus nguy hiểm nhất. Bản thân rootkit không thực sự là virus, đây là phần mềm hoặc một nhóm các phần mềm máy tinh được giải pháp dé can thiệp sâu vào hệ thống máy tính (nhân của hệ điều hành hoặc thậm chí là phần cứng của máy tính) với mục tiêu che giấu bản thân nó. va các loại phần mềm độc hại khác. Với sự xuất hiện của rootkit, các phần mềm độc hại như trở nên “vô hình” trước những công cụ thông thường thậm chí vô hình cả với các phần mềm diệt virus.
Việc phát hiện mã độc và tiêu diệt virus trở nên khó khăn hơn rất nhiều trước sự bảo vệ của rootkit — vốn được trang bị nhiều kỹ thuật mới hiện đại. Xuất hiện lần đầu trên hệ thống Unix từ khá lâu, nhưng ké từ lần xuất hiện “chính thức” trên hệ điều hành Windows vào năm 2005, Rootkit đang dần trở nên phô biến và trở thành công cụ che giấu hữu hiệu cho các loại phần mềm độc hại khác. NGUYEN THỊ HOA - D17CQAT01-B 14 ĐỎ AN TOT NGHIỆP CHUONG I - Botnet: là những máy tính bị nhiễm virus và điều khiển boi Hacker thông qua Trojan, virus. Hacker lợi dụng sức mạnh của những máy tính bị nhiễm virus dé thực hiện các hành vi tấn công, phá hoại, ăn cắp thông tin.
Thiệt hại do Botnet gây ra thường rat lớn. - Biến thể: Một hình thức trong cơ chế hoạt động của virus là tạo ra các biến thể của chúng. Biến thé của virus là sự thay đổi mã nguồn nhằm các mục đích tránh sự phát hiện của phần mềm diệt virus hoặc làm thay đôi hành động của nó. - Virus Hoax: Đây là các cảnh báo giả về virus.
Các cảnh bảo giả này thường núp dưới dạng một yêu cầu khân cấp để bảo vệ hệ thống. Mục tiêu của cảnh báo virus giả là cố gang lôi kéo mọi người gửi cảnh báo càng nhiều càng tốt qua email. Bản thân cảnh báo giả là không gây nguy hiểm trực tiếp nhưng những thư gửi để cảnh báo có thé chữa mã độc hại hoặc trong cảnh báo giả có chứa các chỉ dẫn về thiết lập lại hệ điều hành, xóa file làm nguy hại tới hệ thống. Kiểu cảnh báo giả này cũng gây tốn thời gian và quấy rối bộ phận hỗ trợ kỹ thuật khi có quá nhiêu người gọi đên và yêu câu dịch vụ.
Các mã độc này thường được sử dụng rộng rãi với nhiều mục đích khác nhau nhắm vào các cơ quan chính phủ, các công ty để thu thập các thông tin được bảo vệ hoặc làm gián đoạn các hoạt động của các cơ quan tổ chức. Ngoài ra các dữ liệu thông tin nhạy cảm của người dùng như chỉ tiết nhận dạng cá nhân, tài khoản ngân hang thẻ tín dung,. cũng thường xuyên trở thành mục tiêu của các phần mềm mã độc. Vì vậy cần thực hiện một số các biện pháp thích hợp dé ngăn chặn chúng.
NGUYEN THỊ HOA - D17CQAT01-B 15 ĐỎ AN TOT NGHIỆP CHUONG I 1.