Đặt vấn đề Ngày nay trong khi toàn cầu đang nỗ lực lên các kế hoạch hành động để bảo vệ đa dạng sinh học (ĐDSH) cũng như tính toàn vẹn của sự sống trên hành tinh, hoạt động du lịch và các hoạt động xây dựng, sản xuất canh tác nông nghiệp lại trở thành một nguy cơ đe dọa đến sự suy giảm đa dạng sinh học. Trong nhiều nguyên nhân gây tổn thất đa dạng sinh học thỳ sinh vật ngoại lai xâm hại là một trong những mối đe dọa nguy hiểm nhất. Chúng đang ngày càng mở rộng khu phân bố, cạnh tranh gay gắt đến mức hủy diệt các loài bản địa làm mất cân bằng sinh thái tự nhiên. Các loài sinh vật ngoại lai có mặt hầu hết các nhóm sinh vật từ vi sinh vật, nấm, thực vật bậc cao đến các loài động vật.
Trong các loài ngoại lai xâm hại thì thực vật ngoại lai là một trong những nhóm có mức nguy hại lớn do chúng có khả năng phát tán nhanh chóng và gây xâm lấn, hủy diệt các loài bản địa. Hiện nay, Việt Nam đang bị một số thực vật ngoại lai như Bèo lục bình (Eichhornia crassipes Mart. Solms), Bèo cái (Pistia stratiotes L.), cây Mai dương (Mimosa pigra L. gây tác hại nghiêm trọng.
Trong số đó có cây Sắn dây rừng (Pueraria montana Lour) là loài thực vật ngoại lai xâm lấn mạnh đe dọa đến đa dạng sinh học và sự phát triển của cây rừng ở nhiều nơi trên đất nước ta đặc biệt là vùng có nhiều rừng thứ sinh nghèo cần phục hồi như tỉnh Lai Châu. Lai Châu là tỉnh miền núi là nơi đầu nguồn lưu vực các con sông lớn như: Sông Nậm Na, Sông Nậm Mu, Sông Nậm Mạ, Sông Đà… Địa hình được tạo bởi những dãy núi chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, có nhiều đỉnh núi cao như đỉnh Pu Sa Leng cao 3. Núi đồi cao và dốc, xen kẽ nhiều thung lũng sâu và hẹp, phía Đông là dãy núi Hoàng Liên Sơn, phía c 2 Tây là dãy núi Sông Mã, giữa hai dãy núi trên là phần đất thuộc vùng núi thấp tương đối rộng lớn thuộc lưu vực sông Đà với nhiều cao nguyên đá vôi dài 400km chạy suốt từ Phong Thổ (Lai Châu) đến Quan Sơn, Quan Hóa (Thanh Hoá). Vì nhiều con sông lớn nhỏ cùng có nhiều ngọn núi cao hiểm trở xen giữa là các thung lũng, với địa hình phức tạp tạo nên tính đa dạng sinh học rất phong phú.
Lai Châu có diện tích rừng và đất rừng chiếm 35% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh thuộc loại rừng nhiệt đới với quần thể thực vật rất phong phú trong đó có nhiều loài gỗ quý có giá trị kinh tế cao (Trang Thông tin điện tử Lai Châu, 2014) [16]. Để sử dụng rừng có hiệu quả, góp phần xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn nguồn nước, bảo vệ đất, bảo tồn đa dang sinh học ngoài việc bảo vệ rừng tự nhiên và đầu tư trồng rừng mới còn một diện tích rừng khá lớn đa phần là rừng thứ sinh nghèo và rừng phục hồi, biện pháp khoanh nuôi là chủ yếu chưa có những giải pháp kỹ thuật lâm sinh tác động hợp lý để nâng cao chất lượng của rừng, trong khi hiện nay trên địa bàn chưa có các công trình khoa học nghiên cứu về lâm nghiệp. Xuất phát từ những hạn chế nói trên tôi nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu phương thức lâm sinh xử lý Sắn dây rừng (Pueraria montana Lour) loài thực vật xâm lấn cho rừng thứ sinh nghèo tại xã Lản Nhì Thàng, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu”. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được hiện trạng xâm hại rừng của cây Sắn dây rừng tại bản Séo Xiên Pho, xã Lản Nhì Thàng, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Bước đầu đánh giá được những thử nghiệm lâm sinh xử lý Sắn dây rừng. Ý nghĩa nghiên cứu 1. Ý nghĩa nghiên cứu khoa học Giúp sinh viên làm quen và vận dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn, thông qua thực tiễn sản xuất tiếp xúc với người dân và cán bộ tại địa phương mà học hỏi được kinh nghiệm nâng cao kiến thức tích lũy kinh nghiệm cho bản thân. Nắm bắt được phương pháp điều tra, các phương thức lâm sinh, đánh giá được công tác nghiên cứu và thực hiện được biện pháp kỹ thuật lâm sinh đối với rừng thứ sinh nghèo.
Ý nghĩa thực tiễn Qua nghiên cứu tại địa phương thực tập nắm bắt được các phương pháp kỹ thuật lâm sinh trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại địa phương từ đó đề xuất một số giải pháp đối với từng khu vực, điều kiện cụ thể. Nếu chứng minh thành công phương pháp có thể áp dụng rộng rãi trên toàn quốc, góp phần trực tiếp vào xúc tiến đa dạng sinh học, chi trả dich vụ môi trường rừng. c 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học vấn đề nghiên cứu 2.
Tổng quan về sinh vật ngoại lai xâm hại Sinh vật ngoại lai xâm hại trước hết là những loài không có nguồn gốc bản địa, là loài được tìm thấy bên ngoài môi trường tự nhiên của nó. Một hệ sinh thái tồn tại nhờ vào sự tiến hóa lâu dài, những mối quan hệ chặt chẽ giữa các loài trong hệ sinh thái bởi hàng trăm năm hoặc hàng ngàn năm cạnh tranh, đào thải, thích nghi và hợp tác. Sau khi xâm nhập vào một hệ sinh thái, các loài lạ có thể không thích nghi với điều kiện sống, bị các hệ sinh thái đó loại trừ và do đó không tồn tại được. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, do thiếu vắng đối thủ cạnh tranh và thiên địch như ở quê nhà cùng với điều kiện sống thuận lợi, các loài này có ñiều kiện sinh sôi nảy nở rất nhanh và ñến một lúc nào ñó làm đảo lộn cân bằng, thay đổi hoặc hủy hoại hệ sinh thái bản địa.
Lúc này nó trở thành loài ngoại lai xâm hại (Nguyễn Thị Bé Phúc, 2006) [8]. Theo tài liệu của Cục bảo vệ Môi trường, sinh vật ngoại lai có thể xâm nhập vào một môi trường sống mới bằng nhiều cách. Nó có thể đi theo con đường tự nhiên như theo gió, dòng biển và bám theo các loài di cư, nhưng quan trọng hơn cả là do hoạt động của con người. Cùng với sự phát triển của giao thông vận tải và hoạt động thông thường, con người đã mang theo, một cách vô tình hay hữu ý, các loài sinh vật từ nơi này đến nơi khác thậm chí đến những vùng rất xa quê hương của chúng.
Các loài này có thể trà trộn trong hàng hoá, sống trong nước dằn tàu, bám vào các phương tiện vận tải như tàu thuyền và nhờ đó được mang đến môi trường sống mới. Nhiều loài được du nhập một cách có chủ ý cho các mục đích kinh tế, giải trí, nghiên cứu khoa học nhưng do không được kiểm tra và kiểm soát tốt đã bùng phát và gây ra nhiều tác hại nặng nề. Con người cũng đã chủ động du nhập nhiều loài sinh c 5 vật nhằm phục vụ cho các mục đích như trồng trọt, chăn nuôi và lâm nghiệp. , rồi sau đó chúng trở thành các loài có hại (Nguyễn Thị Bé Phúc, 2006) [8].
Các loài xâm lấn thường có các đặc tính sau đây: 1.Thường là loài ngoại lai (không phải loài bản địa), chúng thường được du nhập đến từ nơi khác do chủ ý hay vô tình. Chúng thường là các loài sinh trưởng nhanh do vậy chúng có thể thiết lập và chiếm lĩnh môi trường sống mới rất nhanh. Chúng thường là các loài tiên phong. Với thực vật điều này co nghĩa rằng chúng thường là các loài ưa sáng và có thể sinh sôi nảy nở trên các khu vực có đất nghèo và suy thoái.
Bởi chúng thường là các loài ngoại lai (du nhập từ bên ngoài), các loài xâm lấn thường không có thiên địch tại môi trường sống mới. Điều này có nghĩa rằng sẽ không thể áp dụng các biện pháp sinh học để xử lý. Chúng thường được thiết lập trong môi trường sống bị suy thoái hoặc môi trường sống bị xáo trộn từ trạng thái tự nhiên ban đầu. Thường thì chúng được du nhập đến và sinh sống ở “ rìa” hệ sinh thái hoặc môi trường sống mới do kết quả từ sự can thiệp của con người.
Rừng bị suy thoái là một ví dụ về điều này (KfW, 2005) [5]. Tiêu chí xác định loài ngoại lai xâm hại. Loài ngoại lai xâm hại đã biết đáp ứng các tiêu chí sau: a) Đã thiết lập được quần thể tại Việt Nam, đang lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài sinh vật bản địa, có xu hướng hoặc đang gây mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện hoặc qua khảo nghiệm bộc lộ khả năng xâm hại. b) Đã được ghi nhận xâm hại nghiêm trọng ở nhiều nước có điều kiện sinh thái tương đồng với Việt Nam.
c 6 c) Được Hội đồng tư vấn khoa học do Bộ Tài nguyên và Môi trường thành lập đánh giá và thống nhất xác định là loài ngoại lai xâm hại. Loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại đáp ứng các tiêu chí sau: a) Chưa du nhập vào Việt Nam hoặc đã xuất hiện ở Việt Nam song chưa thiết lập được quần thể trong tự nhiên. b) Đã được ghi nhận xâm hại ở nhiều nước có điều kiện sinh thái tương đồng với Việt Nam. c) Được Hội đồng tư vấn khoa học do Bộ Tài nguyên và Môi trường thành lập đánh giá và thống nhất xác định là loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2013) [2].
Tại Việt Nam, các loài sinh vật ngoại lai xâm lấn quan trọng đã được ghi nhận bao gồm: Cây Keo giậu (Leucaena leococephala) là một loài cây gỗ nhỏ, loài cây này ở Việt Nam thường được trồng làm hàng rào nên gọi là cây Keo giậu, Keo giậu được xem là loài cỏ dại sống ở những nơi tán mở, nhiều ánh sáng, đất bạc màu. Keo giậu thích ứng tốt khi lượng mưa dao động từ 500 - 3.500 mm và mùa khô dài 6 - 8 tháng; Keo giậu thích nghi tốt với điều kiện vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, đặc biệt những nơi có mùa khô. Tại một số nơi, Keo giậu có thể mọc thành rừng cây bụi thuần loài lấn át thay thế rừng cây bản địa và đe dọa các loài đặc hữu. Mặc dù không gây tác động rõ rệt tới đa dạng sinh học nhưng các bụi cây này mọc dày đặc có thể làm cản trở giao lưu và kiếm ăn của các loài động vật,.