Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu. Chương này đưa ra một số khái niệm đề cập trong luận văn, thống nhất về cách hiểu một số khái niệm. Phần này cũng đề cập đến tính liên ngành trong nghiên cứu BĐKH. Khung lý thuyết cho nghiên cứu này được tóm tắt và sơ đồ hóa toàn bộ tiến trình thực hiện.
Ngoài ra, phần rất quan trọng của chương này đó là tìm hiểu, xem xét các nghiên cứu trong và ngoài nước cũng như địa bàn nghiên cứu. Các kết quả nghiên cứu đó như thế nào, điểm nào chưa làm, để nghiên cứu này không bị trùng lặp. Cũng từ đó xem có thể kế thừa các kết quả nghiên cứu đã công bố. Chương 2: Đối tượng, phạm vi, địa điểm, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu.
Chương này mô tả chi tiết các phương pháp nghiên cứu đã thực hiện, cách tiếp cận đã sử dụng. Cũng như mô tả về phạm vi về thời gian, không gian, quy mô, địa bàn nghiên cứu. Cho biết các đối tượng nghiên, những ai đã tham gia trong quá trình nghiên cứu, yếu tố nào được nghiên cứu. Chương 3: Kết quả và thảo luận.
Đây là chương mô tả chi tiết kết quả nghiên cứu, các phát hiện trong quá trình nghiên cứu. Bên cạnh đó là các bàn luận, thảo luận, nhận định, đánh giá về các phát hiện. Kết luận và khuyến nghị. Đây là phần tóm tắt từ kết quả nghiên cứu.
Từ kết quả nghiên cứu đưa ra các kết luận, nhận định ngắn gọn của nghiên cứu. Từ đó đưa ra một vài khuyến nghị cho địa phương và các bên liên quan nghiên cứu này. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm BĐKH: Biến đổi khí hậu là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn. BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thường xuyên của con người, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển (IPCC, 2007).
Rừng ngập mặn là những quần xã thực vật hình thành ở vùng ven biển và cửa sông những nơi bị tác động của thủy triều ở vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới. Trên thế giới có nhiều tên gọi khác nhau về rừng ngập mặn như “rừng ven biển”, “rừng ở vùng thủy triều” và “rừng ngập mặn” (FAO, 1994). Ở Việt Nam, hầu hết các nhà khoa học đều thống nhất tên gọi chung là “Rừng ngập mặn” (Ngô Đình Quế, Võ Đại Hải, 2012). Hệ sinh thái là một phức hợp động của các quần thể động vật, thực vật và vi sinh sinh vật, và môi trường vật lý đóng vai trò như một đơn vị chức năng.
Con người là một phần không thể tách rời của các HST (MA, 2003). Các HST có sự khác nhau rất lớn về quy mô và Dịch vụ hệ sinh thái được định nghĩa là lợi ích mà con người thu được từ các hệ sinh thái. Dịch vụ HST được chia làm 4 loại. Dịch vụ cung cấp là các sản phẩm con người thu được từ các HST như lương thực, nhiên liệu, sợi, nước ngọt, nguồn gen.
Dịch vụ điều tiết là những nguồn lợi mà con người thu được từ hoạt động điều tiết của các quá trình của HST bao gồm duy trì chất lượn không khí, điều tiết khí hậu, kiểm soát xói lở, điều tiết dịch bệnh ở người, lọc nước. Dịch vụ văn hoá là những lợi ích phi vật chất mà con người thu được thông qua sự làm giàu về tinh thần, phát triển nhận thức, suy nghĩ, sáng tạo và trải nghiệm về mỹ học. Dịch vụ hỗ trợ là những dạng dịch vụ cần thiết cho việc sản xuất tất cả các loại dịch vụ khác, ví dụ như oxy, hình thành đất. 5 Các dịch vụ HST được xem xét một cách tổng hợp trong quan hệ giữa chúng với nhau, với các yếu tố khác và với phúc lợi của con người.
Hiểu được yếu tố làm biến đổi HST là một vấn đề quan trọng trong việc đưa ra những vấn đề can thiệp giúp có thể có được những kết quả tích cực cho các HST và các dịch vụ của chúng. Phục hồi hệ sinh thái: là quá trình hỗ trợ sự phục hồi của một HST đã bị suy thoái, hư hại, hoặc bị phá hủy (Society of Ecological Restoration, 2010). Thực tiễn phục hồi sinh thái bao gồm các hoạt động như kiểm soát xói mòn, tái trồng rừng, sử dụng các loài bản địa, loại bỏ các loài ngoại lai và cỏ dại, tái phủ xanh khu vực bị tác động, trồng các loài bản địa, cũng như cải thiện môi trường sống và phạm vi đối với các loài chính. "Phục hồi sinh thái" là thuật ngữ chỉ việc ứng dụng trên thực tiễn chuyên ngành “Sinh thái học phục hồi” (Restoration Ecology).
Tính chống chịu: là khả năng của một hệ thống chịu được các nhiễu loạn mà không bị phá vỡ và chuyển sang một trạng thái biến đổi về chất khác. Một hệ thống có khả năng chống chịu có thể hấp thu các nhiễu loạn, thay đổi hoặc điều chỉnh, sau đó tái tổ chức và vẫn giữ được các cấu trúc cơ bản và cách vận hành của nó (Trương Quang Học, 2013). Ứng phó với BĐKH: Là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm nhẹ BĐKH. Như vậy, ứng phó với BĐKH gồm hai hợp phần chính là thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ BĐKH (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008).
Giảm nhẹ BĐKH là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cường độ phát thải khí nhà kính (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008). Thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và biến đối khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008). Thích ứng và giảm nhẹ BĐKH đóng vai trò quan trọng và là nền tảng cơ bản để giải quyết các vấn đề của BĐKH. Các khái niệm về thích ứng và giảm nhẹ BĐKH cho thấy giảm nhẹ BĐKH sẽ giảm tất cả các tác động (tích cực và tiêu cực) của 6 BĐKH và do đó giảm các cơ hội thích ứng; trong khi đó thích ứng BĐKH có thể phát huy các tác động tích cực và giảm các tác động tiêu cực của BĐKH.
Tính hệ thống và liên ngành trong nghiên cứu biến đổi khí hậu Theo báo cáo tổng hợp “BĐKH 2007” của IPCC, chiến lược giảm nhẹ BĐKH cũng như chiến lược thích ứng đều là hợp phần của chính sách ứng phó với BĐKH. Do đó, nghiên cứu đánh giá tác động của BĐKH, nguy cơ tổn thương nhằm có giải pháp ứng phó kịp thời là rất cần thiết. Để thích ứng với BĐKH cần phải lường trước được tác động của BĐKH sẽ gây ảnh hưởng như thế nào đối với từng đối tượng cụ thể. Mà muốn đánh giá được tác động của nó cần phải xác định được kịch bản của BĐKH.
Những tính toán này càng chính xác bao nhiêu thì công tác ứng phó với BĐKH (nhằm thích ứng và giảm nhẹ BĐKH) càng hiệu quả bấy nhiêu. Sự phát triển của khoa học đã chứng minh những ưu thế của hướng tiếp cận chuyên ngành về tính rõ ràng, về khả năng phục vụ việc nghiên cứu chuyên biệt. Vì vậy, nghiên cứu triển khai về BĐKH cần phải đặt dưới sự liên kết của nhiều ngành khoa học khác nhau. Việc nghiên cứu BĐKH có thể được chia thành 3 nhóm nhiệm vụ lớn: (i) Bản chất, nguyên nhân và cơ chế vật lý của sự BĐKH; (ii) Đánh giá tác động của BĐKH, tính dễ bị tổn thương do BĐKH và giải pháp thích ứng; (iii) Giải pháp, chiến lược và kế hoạch hành động nhằm thích ứng và giảm thiểu BĐKH.
Xét trên quy mô toàn cầu, về logic, việc nghiên cứu BĐKH cần phải được thực hiện một cách tuần tự theo các bước trên (Trương Quang Học, 2007, 2011a).3 Khung lý thuyết nghiên cứu Tiếp cận từ trên xuống Xác định mục tiêu Xác định địa nghiên cứu điểm nghiên cứu Xác định vấn đề Tiếp cận từ dưới nghiên cứu lên Văn bản ĐKTN, KT-XH Hiện trạng tài nguyên Hồ sơ Sử dụng đất Thống kê - Phỏng vấn cán - Tư liệu Biến Vai trò/ - Nguyên bộ và người dân hóa diễn động chức nhân suy giảm trong xã; biến RNM RNM năng - Mối quan hệ -Thống kê các - Điều tra RNM chính sách hình thức quản lập OTC lý RNM đến quản lý GIẢI PHÁP PHỤC HÔI HST RNM - Quản lý; - Trồng, chăm sóc, bảo vệ RNM; - Tuyên truyền.1: Khung lý thuyết nghiên cứu 8 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Nghiên cứu trên thế giới 1. Phân bố và diện tích rừng ngập mặn trên thế giới Năm 2010, các nhà khoa học cho biết, sau khi phân tích dữ liệu từ Hệ thống vệ tinh chụp ảnh Trái đất (Landsat) của NASA, họ ước tính RNM còn tồn tại chiếm 12,3% diện tích bề mặt Trái đất (tương đương khoảng 137.760 km²) và phân bố trên 123 nước trên thế giới.
Các rừng ngặp mặn phân bố trong phạm vi rộng ở các vùng biển ấm. Vị trí xa nhất của RNM ở Bắc bán cầu là vịnh Agaba thuộc Hồng Hải (300B) và Nam Nhật Bản (320B); ở Nam bán cầu là Nam Autralia (380N), đảo Chatham và phía Tây New Zeyland (440N). Phân bố rừng ngập mặn trên thế giới Sự phân bố rừng ngập mặn hiện nay có ba kiểu chủ yếu: Kiểu thứ nhất là khác nhau trong các loài cả về phân loại và số lượng loài giữa Châu Phi, Châu Á và Châu Mỹ. Kiểu thứ hai đều giảm về số lượng loài theo vĩ độ tăng lên, hầu hết đi kèm với nhiệt độ.
Kiểu thứ ba giảm tính đa dạng loài đi cùng với lượng mưa giảm dần và khô hạn tăng dần. Dù cây rừng ngập mặn phần lớn là cây nhiệt đới và cận nhiệt đới nhưng đôi khi chúng cũng có mặt ở vùng bờ biển lạnh hơn, đặc biệt là ở Úc, bờ biển đông của Nam 9 Mỹ, vùng nam bán cầu Châu Phi, Trung Quốc và phía Nam của Nhật Bản trong vùng cực Bắc. Ở vùng cửa sông và châu thổ ven sông thuộc khí hậu ẩm cận xích đạo, cây ngập mặn có thể tạo thành cánh rừng, cây cao khoảng 40 đến 60 mét. Cây rừng ngập mặn có thể phân bố ở dọc các ghềnh đá, bãi cát được che chắn, trên các đảo san hô, ở các điều kiện này thường các dải có chiều rộng thường không quá vài trăm mét.