Đặt vấn đề Sản xuất mía đường là một trong những ngành công nghiệp đóng góp một phần vào nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, công nghệ sản xuất mía đường hiện tại tạo ra nhiều chất thải rắn từ quá trình ép mía. Để giảm thiểu lượng chất thải rắn phát sinh trong quá trình sản xuất, các công ty sản xuất mía đường thường dùng hệ thống lò hơi để đốt các chất thải rắn, nhiệt sinh ra từ quá trình đốt lò được tận dụng. Việc đốt các chất thải rắn trên làm phát sinh lượng khí thải lớn ra môi trường.
Công tác quản lý môi trường còn hạn chế, do đó cần có các biện pháp kiểm soát môi trường đặc biệt là môi trường không khí. Cho đến nay, việc kiểm kê phát thải khí từ các nhà máy tại Việt Nam đã được các cơ quan nghiên cứu thực hiện nhưng dữ liệu chung của các hoạt động này là áp dụng hệ số phát thải của nước ngoài (chủ yếu là sử dụng hệ số phát thải của Mỹ, WHO, EU) cho việc tính toán, do Việt Nam chưa có bộ hệ số phát thải cho các ngành sản xuất. Đối với lò hơi của ngành sản xuất mía đường hiện nay cũng chưa có số liệu về hệ số phát thải. Với các lý do trên, đề tài “Nghiên cứu xác định phát thải một số chất ô nhiễm không khí từ lò hơi của Công ty TNHH Mía đường Nghệ An và đánh giá mức độ phát tán của chúng” được lựa chọn làm nội dung nghiên cứu.
Kết quả của đề tài hy vọng sẽ góp phần hoàn thiện, bổ sung cơ sở khoa học và phương pháp luận cho việc xây dựng bộ hệ số phát thải của lò hơi ngành sản xuất mía đường Việt Nam nói chung và Công ty TNHH Mía đường Nghệ An nói riêng. Ngoài ra, việc xác định hệ số phát thải này là cần thiết và tạo cơ sở để có thể kiểm kê phát thải, kiểm soát chất lượng không khí giúp Công ty TNHH Mía đường Nghệ An tuân thủ nghiêm các quy định về bảo vệ môi trường cũng như giúp cơ quan quản lý trong việc kiểm soát chất lượng không khí tại địa phương. Mục tiêu nghiên cứu - Góp phần xây dựng bộ hệ số phát thải các chất ô nhiễm không khí cho các lò hơi công nghiệp nói chung và lò hơi cho ngành sản xuất mía đường nói riêng; - Đánh giá mức độ phát tán của các chất ô nhiễm không khí trong khí thải từ lò hơi công nghiệp. 1 Đối tượng và phạm nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu, đo đạc và đánh giá mức độ phát thải và phát tán các chất ô nhiễm không khí từ lò hơi của Công ty TNHH Mía đường Nghệ An với các thông số bụi tổng, SO2 , NOx , CO.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sản xuất mía đường trên thế giới và Việt Nam Trên thế giới: Ngành sản xuất mía đường là một trong những ngành công nghiệp chế biến nông sản lâu đời nhất trên thế giới, với hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ có sản xuất. Một số quốc gia có sản lượng mía lớn nhất thế giới là Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan… Về cơ bản, quy trình sản xuất đường từ mía đều trải qua các bước xay ép, lắng lọc, nấu đường, ly tâm rồi sấy khô để tạo thành phẩm là đường thô và sau đó là đường tinh luyện. Các quốc gia như Brazil, Ấn Độ, Thái Lan là các quốc gia có sản lượng đường mía lớn nhất thế giới.
Tại Việt Nam: Ngành sản xuất mía đường ở Việt Nam mới chỉ được phát triển từ những năm 1990. Cho đến năm 1994 cả nước chỉ mới có 9 nhà máy đường mía với tổng công suất dưới 11.000 tấn mía/ngày và 2 nhà máy tinh luyện công suất nhỏ, thiết bị lạc hậu dẫn đến việc mỗi năm phải nhập khẩu trung bình từ 300 ngàn đến 500 ngàn tấn đường. Nhận thấy được những lãng phí rất lớn trong chế biến và sản xuất đường nội địa, chương trình mía đường đã được khởi động kể từ năm 1995. Chương trình này được chọn là chương trình khởi đầu để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, xoá đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp.
Ngành mía đường được giao “không phải là ngành kinh tế vì mục đích lợi nhuận tối đa mà là ngành kinh tế xã hội”. Vùng mía tập trung tại các tỉnh có nhà máy đường như Tuyên Quang, Hòa Bình, Sơn La, Cao Bằng. Khu vực này tập trung 5 nhà máy đường có công suất thiết kế khá thấp, trung bình chỉ khoảng 2. Có 6 nhà máy hoạt động tại 2 tỉnh trồng mía lớn nhất là Thanh Hoá và Nghệ An, trong đó có các nhà máy công suất lớn như Lam Sơn (10.500 tấn mía/ngày), Việt Đài (6.000 tấn mía/ngày) và Nghệ An Tate&Lyle (8.
Đây là khu vực sản xuất đường lớn nhất cả nước và có tỷ lệ tiêu hao mía/đường tương đối thấp. Tính đến nay, có tổng cộng 38 nhà máy đường đang hoạt động tại các vùng nguyên liệu mía khắp cả nước. Khoảng cách giữa các nhà máy khá lớn, ngoài trừ khu vực đồng bằng sông Cửu Long có mật độ tập trung rất cao dẫn đến tình trạng 3 thiếu nguyên liệu và tranh mua mía lẫn nhau.Thời gian hoạt động của các nhà máy đường tuỳ thuộc vào thời vụ trồng mía của từng khu vực nhưng thông thường chỉ kéo dài 4 đến 5 tháng từ tháng 11 năm này đến tháng 04 năm sau, ngoại trừ một số vùng đất thấp ngập lũ tại đồng bằng sông Cửu Long có tuổi mía ngắn (8 - 10 tháng) nên thu hoạch sớm từ tháng 07 - tháng 09. Về dây chuyền sản xuất, các nhà máy đường tại Việt Nam trước đây có công nghệ tương đối lạc hậu.
Tuy nhiên, trong giai đoạn gần đây nhiều nhà máy đã chủ động nâng công suất nhà máy bằng các thiết bị nhập khẩu từ Úc và các nước tiên tiến khác. Đối với nhà máy đường, quy mô công suất là một chỉ tiêu rất quan trọng bên cạnh vùng nguyên liệu mía vì công suất càng lớn thì hoạt động càng hiệu quả. Thông thường một nhà máy phải có công suất từ 6.000 tấn mía/ngày trở lên thì mới đạt được lợi thế về quy mô. Hiện chỉ có 8/38 nhà máy có công suất ép lớn hơn 6.
Các vấn đề môi trường nảy sinh trong quá trình sản xuất mía đường Nguyên liệu chính để sản xuất đường chính là mía. Trong quá trình sản xuất mía đường sẽ phát sinh chất thải rắn, nước thải và khí thải. Nước thải phát sinh trong quá trình sản xuất mía đường có thể từ khu ép mía, từ lò hơi và nước từ quá trình rửa lọc, làm mát thiết bị. Lượng nước thải phát sinh trong quá trình sản xuất mía đường là tương đối lớn, với hàm lượng chất hữu cơ và chất dinh dưỡng cao gây mùi khó chịu thực sự là quan ngại, cần được xử lý tốt trước khi thải ra ngoài môi trường.
Chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất mía đường chủ yếu là rỉ đường và bã mía. Đối với rỉ đường, có thể sử dụng để sản xuất cồn công nghiệp, sản xuất men. Còn đối với bã mía sau khi ép được sử dụng làm nguyên liệu đầu vào của lò hơi để tận dụng nhiệt từ quá trình đốt. Quá trình đốt bã bía sẽ phát sinh bụi và các chất ô nhiễm dạng khí (CO, SO2, NO x….
Tùy theo kiểu lò hơi, công suất của lò, nguồn nguyên liệu, hệ thống xử lý khí thải mà lượng các chất ô nhiễm thải ra ngoài môi trường có thể nhiều hay ít. Hiện nay, khi có đủ số liệu về vận hành nhà máy, các dữ liệu về địa lý, khí hậu khu vực nhà máy có thể tính toán được hệ số phát thải và xác định được mức độ phát tán của chúng. Nước thải, chất thải rắn, khí thải trong quá trình sản xuất mía đường cần được xử lý, kiểm soát tốt để giảm thiểu ô nhiễm và hạn chế tác động xấu đến môi trường. Tình hình nghiên cứu về hệ số phát thải trong quá trình sản xuất mía đường Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về hệ số phát thải trong quá trình sản xuất mía đường như các nghiên cứu trong AP-42, National Pollutant Inventory – Australian Government (NPI)… Các nghiên cứu theo AP-42, NPI có đề cập đến các nguồn phát thải, nguyên liệu, điều kiện vận hành khác nhau và cho nhiều thông số.
Các nguồn phát thải có thể kể đến như lò hơi đốt bã mía, đốt than, đốt dầu… trong các trường hợp có hệ thống xử lý khí thải (xyclon, lắng bụi ướt …), không có hệ thống xử lý khí thải. Các thông số được tính đến như bụi tổng, NO x, SO2, CO, CO2, VOCs… [1, 2]. Một số kết quả hệ số phát thải theo AP-42 và NPI được trình bày trong Bảng 1.2 dưới đây: Bảng 1. Kết quả nghiên cứu hệ số phát thải theo AP-42 Hệ số phát thải EF STT Thông số Điền kiện vận hành (lb/tấn bã mía độ ẩm 50%) Không có hệ thống xử lý 15,6 1 Bụi tổng Lắng bụi ướt 1,4 2 Bụi PM10 Lắng bụi ướt 1,36 3 CO2 Không có hệ thống xử lý 1.560 4 NOx Không có hệ thống xử lý 1,2 5 POM Không có hệ thống xử lý 0,001 Bảng 1.
Kết quả nghiên cứu hệ số phát thải theo NPI Hệ số phát thải EF STT Thông số Điền kiện vận hành (kg/tấn bã mía) Không có hệ thống xử lý 6,15 1 Bụi PM10 Lắng bụi ướt 0,22 Không có hệ thống xử lý 3,51 2 Bụi PM2,5 Lắng bụi ướt 0,13 5 Hệ số phát thải EF STT Thông số Điền kiện vận hành (kg/tấn bã mía) Không có hệ thống xử lý 2,61 3 CO Lắng bụi ướt 2,61 Không có hệ thống xử lý 0,76 4 NOx Lắng bụi ướt 0,76 Không có hệ thống xử lý 0,25 5 SO2 Lắng bụi ướt 0,25 Các nghiên cứu trên có rất nhiều trường hợp vì vậy có thể làm căn cứ rất tốt để so sánh, đánh giá với nghiên cứu đang thực hiện. Phương pháp xác định mức độ phát thải Mức độ phát thải được sử dụng để xác định nguồn gốc các chất ô nhiễm không khí, dự báo xu hướng phát thải theo thời gian, đưa ra các định hướng và đánh giá chất lượng không khí thông qua mô hình phát tán ô nhiễm. Nguồn phát thải có thể là tĩnh hoặc động. Việc xác định mức độ phát thải bao gồm các tính toán lượng khí thải từ các nguồn ô nhiễm khác nhau trong một khu vực địa lý cụ thể.
Để xác định mức độ phát thải từ các quá trình phát sinh chất ô nhiễm có thể sử dụng nhiều phương pháp như: quan trắc phát thải, cân bằng vật chất hay hệ số phát thải vv.