Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ XỬ LÝ ẢNH VÀ BÀI TOÁN PHÁT HIỆN KHỐI U TRONG GAN 1.Khái quát về xử lý ảnh 1.Các khái niệm cơ bản 1. Xử lý ảnh Xử lý ảnh [1,2,3]là một trong những cách tiếp cận phân tích, tổng hợp hình ảnh theo ý tưởng và mục đích của người sử dụng. Tuy xử lý ảnh là một trong những ngành khoa học còn tương đối mới so với nhiều ngành khoa học khác, nhưng tốc độ phát triển rất nhanh, được rất nhiều các viện nghiên cứu, ứng dụng. Những năm trở lại đây với sự phát triển của phần cứng máy tính, xử lý ảnh và đồ hoạ đã phát triển một cách mạnh mẽ và có nhiều ứng dụng được áp dụng trong cuộc sống.
Xử lý ảnh và đồ hoạ đóng một vai trò quan trọng trong tương tác người -máy. Mục đích của xử lý ảnh là nâng cao chất lượng hình ảnh phục vụ cho con người và xử lý dữ liệu dạng hình ảnh để máy tính có thể hiểu được từ đó đưa ra những quyết định cần thiết. Quá trình xử lý ảnh Xử lý ảnh có nhiều ứng dụng trong đời sống như: nhận dạng ảnh, vệ tinh dự báo thời tiết, viễn thám, ảnh y tế, khoa học hình sự, điện ảnh… Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Điểm ảnh Điểm ảnh (Pixel) làmột phần tử nhỏ nhất của một hình ảnh số tại toạ độ (x, y) với độ xám hoặc màu nhất định.
Để mắt người cảm nhận sự liên tục về không gian và mức xám (hoặc màu) của ảnh số gần như ảnh thật thì kích thước và khoảng cách giữa các điểm ảnh đó được chọn sao cho thích hợp. Ảnh Là một tập hợp các điểm ảnh được biểu diễn thông qua một mảng hai chiều I(n,p): n dòng và p cột, với ảnh này thì số lượng điểm ảnh sẽ là n×p. Mức xám củaảnh a) Định nghĩa: Mức xám (grey level) của điểm ảnh là kết quả sự mã hóa tương ứng một cường độ sáng của mỗi điểm ảnh với một giá trị số tại điểm đó. b) Các thang giá trị mức xám thông thường: 16, 32, 64, 128, 256 (Mức 256 là mức phổ dụng bởi vì trong kỹ thuật máy tính dùng 1 byte (8 bit) để biểu diễn mức xám: Mức xám dùng một byte biểu diễn: 28=256 mức, tức là từ giá trị 0 đến255).
c)Ảnh đen trắng: là ảnh chỉ có hai màu đen và trắng với mức xám ở các điểm ảnh có thể khácnhau. d) Ảnh nhị phân: ảnh chỉ có hai mứcđen trắng phân biệt tức dùng 1 bit mô tả 21 mức khác nhau. Nói cách khác mỗi điểm ảnh của ảnh nhị phân chỉ có thể là 0 hoặc1. e) Ảnh màu: theo lý thuyết của Thomas là ảnh tổ hợp từ ba màu cơ bản (Red, Blue, Green) được thu nhận trên các dải băng tần khác nhau để tạo nên thế giới màu, người ta thường dùng ba byte để mô tả mức màu, khi đó các giá trị màu: 28*3 = 224 ≈ 16,7triệu màu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Độ phân giải của ảnh Độ phân giải (Resolution) của ảnh là số lượng điểm ảnh ( pixcel)trên một hình ảnh số được hiển thị.Các bước xử lý ảnhsố Một hệ thống xử lý ảnh có sơ đồ tổng quát như sau: Hình 1. Các bước cơ bản trong một hệ thống xử lý ảnh Hình 1. Sơ đồ phân tích, xử lý ảnh và lưu đồ thông tin giữa các khối Sau đây sẽ trình bày một số kỹ thuật xử lý ảnh cần thiết phục vụ cho việc cài đặt chương trình thử nghiệm (theo các bước trong hình 1.2), còn các thành phần khác sẽ được giới thiệu ở mức cơ bản.Thu nhận ảnh Các thiết bị thu nhận ảnh bao gồm camera, scanner các thiết bị thu nhận này có thể cho ảnh đen trắng.
Các thiết bị thu nhận ảnh có hai loại chính ứng với hai loại ảnh thông dụng Raster, Vector. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 6 Các thiết bị thu nhận ảnh Raster thông thường là camera, các thiết bị thu nhận ảnh thông thường Vector là sensor hoặc bàn số hoá Digitalizer hoặc được chuyển đổi từ ảnh Raster. Nhìn chung các hệ thống thu nhận ảnh thực hiện 1 quá trình: - Cảm biến: biến đổi năng lượng quang học thành năng lượngđiện - Tổng hợp năng lượng điện thànhảnh 1. Tiền xử lý Sau bộ thu nhận, ảnh có thể nhiễu và độ tương phản thấp nên cần đưa vào bộ tiền xử lý (Image Processing) để nâng cao chất lượng.
Chức năng chính của bộ tiền xử lý là nắn chỉnh biến dạng, lọc nhiễu, chỉnh mức xám, nâng độ tương phản để làm ảnh rõ hơn, nét hơn. a) Nắn chỉnh biến dạng Ảnh gốc thường bị biến dạng do các thiết bị quang học và điện tử. ẢnhgốcẢnh sau khi nắm chỉnh Hình 1. Ảnh gốc và ảnh sau khi nắn chỉnh Các nguyên nhân gây ra biến dạng ảnh do: - Do đầu thu ảnh chất lượngkém, camera.
- Do môi trường, ánh sáng, hiện trường (scene), khí quyển, nhiễuxung. - Do chấtlượng. Để khắc phục người ta sử dụng các phép chiếu được xây dựng trên tập các điểm điều khiển. Giả sử (Pi, Pi’) với i = 1, n có n các tập điều khiển.1) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 7 Giả sử ảnh bị biến đổi chỉ bao gồm: Tịnh tiến, quay, tỷ lệ, biến dạng bậc nhất tuyến tính.
Khi đó hàm f códạng: f (x, y) = (a1x + b1y + c1, a2x + b2y + c2) (1.4) Giải hệ phương trình tuyến tính tìm được a1, b1, c1, tương tự tìm đượca2,b2, c; từ đó ta xác định được hàmf. b)Lọc nhiễu Lọc nhiễu là làm cho hình ảnh có chất lượng tốt hơn. Thường ảnh thu nhận được không được sắc nét có nhiễu nên cần phải loại bỏ nhiễu làm ảnh nét hơn. Để tách nhiễu hay làm trơn nhiễu, người ta sử dụng các bộ lọc tuyến tính( lọc trung bình, thông thấp) hay lọc phi tuyến (trung vị, giả trung vị, lọc đồng hình).
Từ bản chất của nhiễu (thường tương ứng với tần số cao) và từ cơ sở lý thuyết lọc là: bộ lọc chỉ cho tín hiệu có tần số nào đó thông qua do đó, để lọc nhiễu người ta thường dùng lọc thông thấp (theo quan điểm tần số không gian) hay lấy tổ hợp tuyến tính để san bằng (lọc trungbình). c)Tăng độ tương phản Ảnh số là tập hợp các điểm ảnh, mà mỗi điểm ảnh có giá trị độ sáng khác nhau. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 8 Ở đây,mắt người dễ nhận ra hình ảnh nhờ có độ sáng, song không phải là quyết định. Thực tế chỉ ra rằng hai đối tượng có cùng độ sáng nhưng đặt trên hai nền khác nhau sẽ cho cảm nhận khác nhau.
Vì vậy, độ tương phản biểu diễn sự thay đổi độ sáng của đối tượng so với nền. Như vậy có thể hiểu rằng, độ tương phản là độ nổi của điểm ảnh hay vùng ảnh so với nền. Với định nghĩa này, nếu ảnh có độ tương phản thấp, ta có thể thay đổi tuỳ ý theo ý muốn. Ảnh với độ tương phản thấp có thể do độ sáng không đủ hay không đều, hoặc do tính không tuyến tính hay biến động nhỏ của bộ cảm nhận ảnh.
Để điều chỉnh lại độ tương phản của ảnh, ta điều chỉnh lại biên độ trên toàn dải hay trên dải có giới hạn bằng cách biến đổi tuyến tính biên độ đầu vào (dùng hàm biến đổi là hàm tuyến tính) hay phi tuyến (hàm mũ hay hàm lôgarít). Khi dùng hàm tuyến tính các độ dốc α, β, γphải chọn lớn hơn một trong miền cần dãn. Các tham số a và b (các cận) có thể chọn khi xem xét lược đồ xám của ảnh. Dãn độ tương phản ảnh kết quả trùng với ảnh dãn độ tương phản co độ tương phản Chú ý, nếu dãn độ tương phản bằng hàm tuyến tính ta có Hàm mũ hay dùng trong dãn độ tương phản có dạng: f = (X[m,n])p(1.5) d)Chỉnh mức xám Nhằm khắc phục tính không đồng đều của hệ thống gây ra.
Thông thường có hai hướng tiếp cận: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 9 - Giảm số mức xám: Thực hiện bằng cách nhóm các mức xám gần nhau thành một bó. Trường hợp chỉ có hai mức xám thì chính là chuyển về ảnh đen trắng. Ứng dụng: In ảnh màu ra máy in đentrắng. - Tăng số mức xám: Thực hiện nội suy ra các mức xám trung gian bằng kỹ thuật nội suy.
Kỹ thuật này nhằm tăng cường độ mịn choảnh.Phân vùng ảnh Phân vùng ảnh là khâu quan trọng trong quá trình xử lý ảnh. Giai đoạn này nhằm phân tích hình ảnh thành các vùng riêng biệt vàđồng nhất theo một tiêu chí nào đó dựa theo biên hay các vùng liên thông. Tiêu chuẩn để xác định các vùng liên thông có thể là cùng mức xám, cùng màu hay cùng độ nhám. Trước hết cần làm rõ khái niệm "vùng ảnh" (Segment) và đặc điểm vật lý của vùng.
Vùng ảnh là một chi tiết, một thực thể trông toàn cảnh. Nó là một tập hợp các điểm có cùng hoặc gần cùng một tính chất nào đó: mức xám, mức màu, độ nhám… Vùng ảnh là một trong hai thuộc tính của ảnh. Nói đến vùng ảnh là nói đến tính chất bề mặt. Đường bao quanh một vùng ảnh (Boundary) là biên ảnh.
Các điểm trong một vùng ảnh có độ biến thiên giá trị mức xám tương đối đồng đều hay tính kết cấu tươngđồng. Dựa vào đặc tính vật lý của ảnh, người ta có nhiều kỹ thuật phân vùng: phân vùng dựa theo miền liên thông gọi là phân vùng dựa theo miền đồng nhất hay miền kề; phân vùng dựa vào biên gọi là phân vùng biên. Ngoài ra còn có các kỹ thuật phân vùng khác dựa vào biên độ, phân vùng dựa theo kết cấu. Đây là phần phức tạp khó khăn nhất trong xử lý ảnh và cũng dễ gây lỗi, làm mất độ chính xác của ảnh.
Kết quả nhận dạng ảnh phụ thuộc rất nhiều vào công đoạn này.Trích chọn đặc trưng Ảnh đầu ra sau phân đoạn sẽ đượctrích chọn các tính chất để thể hiện ảnh, giúp cho việc nhận dạng các đối tượng ảnh chính xác,làm cơ sở để phân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 10 biệt lớp đối tượng này với đối tượng khác trong phạm vi ảnh nhận được. Các đặc điểm của đối tượng được trích chọn tuỳ theo mục đích nhận dạng trong quá trình xử lý ảnh. Có thể nêu ra vài đặc điểm của ảnh sau đây: - Đặc điểm không gian: Phân bố mức xám, phân bố xác suất, biên độ, điểm uốn.