CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH LƯU TRÚ DU LỊCH 1. Khái niệm dịch vụ du lịch và lưu trú du lịch Sự phát triển khoa học luôn gắn liền với việc xây dựng hệ thống các khái niệm. Bởi lẽ, khái niệm vừa là kết quả của tư duy khoa học vừa là phương tiện để tư duy. Vì thế, để nghiên cứu pháp luật về kinh doanh lưu trú du lịch chúng ta sẽ bắt đầu từ những khái niệm cơ bản.
Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ du lịch Trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người. Ngày nay du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa xã hội của các quốc gia. Về mặt kinh tế, đối với các nước đang phát triển du lịch được coi là cứu cánh để vực dậy nền kinh tế ốm yếu của quốc gia. 3 Hội đồng lữ hành và Du lịch quốc tế (World travel and Tourism Council-WTTC) đã công bố du lịch là một ngành kinh tế lớn nhất thế giới, vượt trên cả ngành sản xuất ô tô, thép, điện tử và nông nghiệp.
Ở một số quốc gia, du lịch là nguồn thu ngoại tệ quan trọng nhất trong ngoại thương.4 Chính vì vậy, du lịch hiện nay là mối quan tâm của nhiều quốc gia bởi nó đem lại một nguồn thu ngoại tệ lớn, thậm chí ở một số nước, du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Do vậy khái niệm về du lịch có nhiều cách hiểu rất khác nhau. Mathieson và Wall của Mỹ cho rằng "Du lịch là sự di chuyển tạm thời của người dân đến ngoài nơi ở và làm việc của họ, là những hoạt động xảy ra trong quá trình lưu lại nơi đến và các cơ sở vật chất tạo ra để đáp ứng những nhu cầu của họ".5 Với quan niệm này, cho thấy du lịch có đối tượng hướng đến đó là người du lịch và thể hiện một hoạt động đơn thuần của khách du lịch. Cũng có quan niệm cho rằng du lịch là chuyến đi của con người trong một khoảng thời gian không nhằm mục đích kiếm tiền như trong định nghĩa của Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa Canada: "Du 3 Trần Đức Thanh (1998), Nhập môn khoa học du lịch, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội, tr.
4 Nguyễn Văn Đính (chủ biên), Trần Thị Minh Hòa(2008), Giáo trình kinh tế du lịch, NXB Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội, tr 5. 5 Trần Đức Thanh (1998), tldd 3, tr. 6 lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm". 6 Ở góc độ bao quát hơn, Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization) cho rằng du lịch là bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền.
Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư. 7 Đây là một định nghĩa tương đối đầy đủ và khái quát về du lịch. Tóm lại, từ những định nghĩa trên cho thấy, khái niệm du lịch trên thế giới có một nội hàm khá rộng, dùng để chỉ sự đi lại của con người tới những vùng, lãnh thổ khác ngoài nơi họ sinh sống, với bất cứ mục đích gì, chẳng hạn như tham quan, khám phá, nghỉ ngơi thư giản, thậm chí cả hành nghề, nhưng loại trừ mục đích kiếm tiền một cách trực tiếp nơi họ đặt chân đến. Ở một góc độ khác, du lịch còn được xem xét dưới khía cạnh kinh tế như đánh giá của Trường Tổng hợp kinh tế thành phố Varna, Bulgarie: "Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội được lặp đi lặp lại đều đặn chính là sản xuất và trao đổi dịch vụ và hàng hóa của các đơn vị kinh tế riêng biệt, độc lập - đó là các tổ chức, các xí nghiệp với cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên môn nhằm đảm bảo sự đi lại, lưu trú, ăn uống, nghỉ ngơi với mục đích thỏa mãn các nhu cầu về vật chất và tinh thần của những người lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên của họ để nghỉ ngơi, chữa bệnh, giải trí (thuộc các nhu cầu về văn hóa, chính trị, kinh tế,v.) mà không có mục đích lao động kiếm lời".8 6 Nguyễn Văn Đính (chủ biên), Trần Thị Minh Hòa (2008), tldd 4.
7 Nguồn từ: http://vi.org/wiki/Du_l%E1%BB%8Bch, truy cập ngày 19/8/2015. 8 Nguyễn Văn Đính (chủ biên), Trần Thị Minh Hòa (2008), tldd 4, tr. 7 Như vậy, từ những phân tích trên đưa đến một nhìn nhận là, khái niệm du lịch còn được đánh giá ở góc độ kinh tế, đó là một ngành kinh doanh, sự trao đổi và cung cấp các dịch vụ, đáp ứng các nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng của con người trong một thời gian nhất định. Mặc dù mới hình thành và phát triển trong thời gian ngắn nhưng pháp luật du lịch Việt Nam đã có điều kiện tiếp thu những giá trị tích cực từ quan niệm du lịch của các nước trên thế giới, đồng thời từng bước hoàn thiện những quy định pháp luật nhằm thúc đẩy sự phát triển của hoạt động du lịch.
Theo điều 10 Pháp lệnh Du lịch năm 1999 thì du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định. Với định nghĩa này thì du lịch mới dừng lại ở việc chỉ những hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình để thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng, Khoản 1 Điều 4 Luật Du lịch 2005 đã điều chỉnh khái niệm về du lịch theo hướng cụ thể hơn, theo đó thì "Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định". Như vậy, khái niệm du lịch theo quy định của Việt Nam có phạm vi khá hẹp, với bốn mục đích chính là tham quan, tìm hiểu, giải trí và nghỉ dưỡng. Trong nền kinh tế thị trường, bên cạnh việc phát triển ngành du lịch thì cũng kéo theo các loại hình dịch vụ liên quan.
Theo định nghĩa của ISO 9001:1991 dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp và khách hàng, cũng như nhờ các hoạt động của người cung cấp để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. 9 Dịch vụ có thể được tiến hành nhưng không gắn liền với sản phẩm vật chất.10 Như vậy, có thể hiểu các hoạt động dịch vụ bổ trợ du lịch bao gồm các hình thức sau: Thứ nhất, dịch vụ lữ hành, 9 Nguyễn Văn Đính (chủ biên), Trần Thị Minh Hòa (2008), tldd 4, tr. 10 Nguyễn Văn Đính (chủ biên), Trần Thị Minh Hòa (2008), tldd 4, tr. 8 Dịch vụ lữ hành gồm các hoạt động chính như: “Làm nhiệm vụ giao dịch kí kết với các tổ chức kinh doanh du lịch trong nước, nước ngoài để xây dựng và thực hiện các chương trình du lịch đã bán cho khách du lịch”.11 Trong đó tồn tại song song hai hoạt động phổ biến sau: + Kinh doanh lữ hành (Tour Operators Business) là việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu thị trường, thành lập các chương trình du lịch trọn gói, hay từng phần; Quảng cáo và bán các chương trình này trực tiếp hay gián tiếp qua các trung gian hoặc văn phòng đại diện, tổ chức thực hiện chương trình và hướng dẫn du lịch.
+ Kinh doanh đại lý lữ hành(Travel Sub-agency Business) là việc thực hiện các dịch vụ đưa đón, đăng ký nơi lưu trú, vận chuyển, hướng dẫn tham quan, bán các chương trình du lịch của các doanh nghiệp lữ hành, cung cấp thông tin du lịch và tư vấn du lịch nhằm hưởng hoa hồng. Thứ hai, dịch vụ lưu trú du lịch, Kinh doanh lưu trú du lịch là hoạt động kinh doanh dịch vụ lưu trú của khách du lịch. Dịch vụ này được thực hiện tại các cơ sở lưu trú du lịch, gồm: Khách sạn; Làng du lịch; Biệt thự du lịch; Căn hộ du lịch; Bãi cắm trại du lịch; Nhà nghỉ du lịch; Nhà ở có phòng cho khách thuê; và các cơ sở lưu trú du lịch khác. Thứ ba, kinh doanh vận chuyển khách du lịch (Transportation), Kinh doanh vận chuyển khách du lịch là việc cung cấp dịch vụ vận chuyển cho khách du lịch theo tuyến du lịch và tại các khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch.
Đặc trưng nổi bật của hoạt động du lịch là sự dịch chuyển của con người từ nơi này đến nơi khác ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ, với một khoảng cách xa. Do vậy khi đề cập đến hoạt động du lịch nói chung, đến hoạt động kinh doanh du lịch nói riêng, không thể không đề cập đến hoạt động kinh doanh vận chuyển. Để phục vụ cho hoạt động kinh doanh này có nhiều phương tiện vận chuyển khác nhau như: Ô tô, tàu hỏa, tàu thủy, máy bay… Thực tế cho thấy ít có doanh nghiệp du lịch (trừ một số tập đoàn du lịch trên thế giới) có thể đảm nhiệm toàn bộ việc vận chuyển khách du lịch từ 11 Nguyễn Văn Đính (chủ biên), Trần Thị Minh Hòa (2008), tldd 4, tr. 9 nơi cư trú của họ đến điểm du lịch.
Phần lớn trong các trường hợp khách du lịch sử dụng dịch vụ vận chuyển của các phương tiện giao thông đại chúng hoặc của các công ty chuyên kinh doanh dịch vụ vận chuyển. Đây cũng là một loại hình kinh doanh có điều kiện.12 Thứ tư, dịch vụ phát triển khu du lịch, Kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch bao gồm đầu tư bảo tồn, nâng cấp tài nguyên du lịch đã có, đưa các tài nguyên du lịch tiềm năng vào khai thác, phát triển khu du lịch, điểm du lịch mới; kinh doanh kết cấu hạ tầng du lịch, cơ sở vật chất- kỹ thuật du lịch. Chủ thể kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch phải xây dựng dự án phù hợp với phát triển du lịch, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.