CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH LỮ HÀNH 1. Khái quát về lữ hành và pháp luật kinh doanh lữ hành Hoạt động kinh doanh lữ hành là một phần của hoạt động du lịch, việc đưa ra các khái niệm về lữ hành và du lịch cũng như phân biệt lữ hành với du lịch là cần thiết. Khái niệm du lịch và khách du lịch 1.
Khái niệm du lịch Tại Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Ottawa, Canada diễn ra vào tháng 6/1991, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã đưa ra khái niệm về Du lịch như sau: “Du lịch là hoạt động của các cá nhân đi tới một nơi ngoài môi trường sống thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn một năm, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”.3 Một khái niệm khác đầy đủ cả về góc độ kinh tế và kinh doanh du lịch của Khoa Du Lịch và Khách Sạn (trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội), tổng hợp những lý luận và thực tiễn của hoạt động du lịch trên thế giới và Việt Nam: “Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế chính trị - xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và bản thân doanh nghiệp”.4 Ở hai khái niệm trên ta thấy du lịch là một khái niệm rất rộng, dùng để chỉ sự đi lại của con người tới các vùng lãnh thổ khác, họ có thể đi với bất kỳ mục đích gì, trừ mục đích kiếm tiền một cách trực tiếp tại nơi đặt chân đến. Khái niệm được trình bày trong Giáo trình của Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội bao hàm cả góc độ Kinh tế, sự trao đổi giữa các doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch, nguyên nhân chính dẫn đến sự trao đổi, mua bán hàng hóa dịch vụ giữa các doanh nghiệp xuất phát từ mục đích đi lại của khách du lịch. 3 Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2012), Nghiên cứu thống kê tài khoản vệ tinh du lịch ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc Dân, Hà Nội, tr.
4 Nguyễn Văn Đính – Trần Thị Minh Hòa (2006), Giáo trình Kinh tế Du lịch, NXB Lao Động – Xã Hội, Hà Nội, tr. 9 Nhìn từ góc độ pháp luật Việt Nam, theo khoản 1 điều 4 Luật Du lịch 2005 thì “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. Như vậy, không phải các hoạt động đi lại khỏi nơi cư trú đều là du lịch, việc du lịch được giới hạn lại bởi không gian, thời gian, mục đích như tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghĩ dưỡng ở nơi khác, có thời gian cụ thể, khi hết thời gian này thì chủ thể tham gia du lịch sẽ trở lại nơi xuất phát bán đầu (nơi thường trú). Các hoạt động như đi xa vì công việc, đi chữa bệnh, đi du học.
đều không phải là du lịch. Ở một số nước trên thế giới thì du lịch chữa bệnh (Medical tourism) vẫn được coi là một hoạt động du lịch và đang có xu hướng phát triển mạnh. 5 Tại Việt Nam, các chương trình du lịch chữa bệnh cũng đã bắt đầu phát triển. Từ các khái niệm trên ta thấy rằng có rất nhiều khái niệm về du lịch và đều được định nghĩa theo nghĩa rộng.
Khái niệm du lịch theo quy định của pháp luật của Việt Nam được giới hạn hẹp hơn với 4 mục đích chính là tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng. Hay nói cách khác du lịch phát sinh từ nhu cầu của người đi, thực hiện sự di chuyển ra ngoài nơi cư trú thường xuyên, từ nơi này đến nơi khác bằng bất kỳ phương tiện nào với mục đích tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghĩ dưỡng có thời gian cụ thể và có sự trở về nơi xuất phát ban đầu. Khái niệm khách du lịch Khái niệm khách du lịch được phân loại chủ yếu theo địa lý, bao gồm: khách du lịch quốc tế, khách du lịch trong nước, khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc gia. Các khái niệm này được Hội đồng thống kê Liên Hiệp Quốc công nhận theo đề nghị của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), cụ thể: Khách du lịch quốc tế bao gồm khách du lịch quốc tế đến (Inbound tourist) và khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (Outbound tourist).
Khách du lịch quốc tế đến gồm những người nước ngoài đến du lịch một quốc gia. Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài gồm những người đang sống trong một quốc gia đi du lịch nước ngoài. Khách du lịch trong nước (Internal tourist) gồm những người là công dân của một quốc gia và những người nước ngoài đang sống trên lãnh thổ của quốc gia đó đi du lịch trong nước. 5 Vụ hợp tác quốc tế – Tổng cục du lịch, “Du lịch chữa bệnh tại Singapore”, http://gov.php?cat=1010&itemid=1359, truy cập ngày 18/09/2014.
10 Khách du lịch nội địa (Domestic tourist) bao gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế đến. Khách du lịch quốc gia (National tourist) bao gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế ra nước ngoài.6 Ở Việt Nam cũng có các quy định về khách du lịch. Khái niệm khách du lịch được quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Du lịch “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, đi làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.” Khách du lịch được phân làm hai loại là khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế Khái niệm khách du lịch nội địa được quy định tại khoản 2 Điều 34 Luật Du lịch như sau: “Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”. Khái niệm khách du lịch quốc tế được quy định tại khoản 2 Điều 34 Luật Du lịch như sau: “Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch”.
Việc phân biệt khách du lịch là quan trọng để xác định được loại hình ngành nghề cụ thể của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành. Dựa vào việc phân biệt khách du lịch nội địa hay quốc tế, ta sẽ biết đâu là doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa và đâu là doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế, từ đó có các quy định pháp luật điều chỉnh một cách phù hợp. Khái niệm lữ hành và kinh doanh lữ hành 1. Lữ hành Thuật ngữ “lữ hành” (Travel) có nhiều cách hiểu, quan niệm khác nhau.
Lữ hành là một từ Hán Việt, theo Đại từ điển Tiếng Việt thì “Lữ hành” là đi đường xa. 7 Có thể hiểu như là sự di chuyển ra khỏi nơi cứ trú với mục đích kinh doanh hoặc tham quan, giải trí. Khái niệm chung giữa các ngành cho thấy, “Du lịch” và “Lữ hành” có nghĩa khá tương đồng nhau. Xuất phát từ nội dung cơ bản của hoạt động du lịch và sự điều chỉnh của pháp luật, việc định nghĩa hoạt động lữ hành và phân biệt lữ hành với du lịch là một yêu cầu cần thiết đối với các nhà làm luật.
6 Nguyễn Văn Đính – Trần Thị Minh Hòa (2006), Giáo trình Kinh tế Du lịch, NXB Lao Động – Xã Hội, Hà Nội, tr. 7 Nguyễn Như Ý (1999), Đại Từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr. 11 Trên thực tiễn, khái niệm lữ hành có hai cách hiểu từ việc tiếp cận theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp. Cách hiểu theo nghĩa rộng thì lữ hành dùng để chỉ tất cả những hoạt động di chuyển của con người từ nơi này đến nơi khác, gồm cả những hoạt động liên quan đến sự di chuyển đó.
Có thể hiểu rằng lữ hành là việc thực hiện sự di chuyển từ nơi này đến nơi khác với bất kỳ lý do gì, bằng bất kỳ phương tiện nào, với mọi mục đích, không gian, thời gian và không cần thiết là có trở về nơi xuất phát hay không. Hiểu theo nghĩa rộng này, “lữ hành” không giới hạn không gian, thời gian, mục đích của sự di chuyển, không giới hạn về số lượng, hình thức của sự di chuyển. Với một phạm vi đề cập rộng như vậy thì trong hoạt động du lịch có bao gồm yếu tố lữ hành, nhưng không phải tất cả các hoạt động lữ hành đều là du lịch. Ví dụ: Trong hoạt động của một công ty hàng không chuyên vận chuyển hành khách thì Công ty này không chỉ vận chuyển khách du lịch mà bao gồm cả những đối tượng khác như học sinh, sinh viên, nhà ngoại giao, bệnh nhân.
Tại các nước phát triển đặc biệt tại các nước Bắc Mỹ thì thuật ngữ “lữ hành” và “du lịch” được hiển một cách tương tự như du lịch. 8 Vì vậy, các hoạt động đi lại, di chuyển và các hoạt động khác có liên quan tới các chuyến đi với mục đích du lịch có thể sử dụng thuật ngữ “lữ hành du lịch” để nói về việc đi du lịch. Cách hiểu khác, tiếp cận lữ hành ở một phạm vi hẹp. “Lữ hành” là việc xây dựng, tổ chức, bán, thực hiện các chương trình du lịch, trong đó có lịch trình chuyến đi, nơi đến nơi đi, các dịch vụ trong chuyến hành trình.
Cách tiếp cận này nhằm để phân biệt hoạt động lữ hành với các hoạt động du lịch khác như vận chuyển, lưu trú, nhà hàng, vui chơi giải trí, nghĩa là giới hạn lữ hành chỉ bao gồm những hoạt động tổ chức các chương trình du lịch. Tiêu biểu cho các tiếp cận này là định nghĩa về lữ hành trong Luật Du lịch Việt Nam. Theo khoản 14 Điều 4 Luật Du lịch 2005 thì “Lữ hành là việc xây dựng, bán, tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình cho khách du lịch”. Dưới góc độ pháp luật, Luật Du lịch đã tiếp cận khái niệm lữ hành ở phạm vi hẹp với mục đích chính là phân biệt hoạt động lữ hành với các hoạt động du lịch khác như lưu trú, nhà hàng, vận chuyển.
Cách tiếp cận này là hợp lý và cần thiết để điều chỉnh hoạt động lữ hành, kinh doanh lữ hành một cách phù hợp.