CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN VÀ PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG 1. Những vấn đề lý luận về phòng, chống rửa tiền 1. Khái niệm rửa tiền 1. Định nghĩa và đặc điểm của rửa tiền Rửa tiền (Money laundering) đã được chứng minh là hành vi nguy hiểm, không chỉ gây thiệt hại cho nền kinh tế mà còn gây xáo trộn trật tự xã hội trong phạm vi quốc gia mà còn là một trong những vấn đề nghiêm trọng xuyên biên giới, mang tính toàn cầu.
Thông qua hành vi rửa tiền, các nguồn tiền phi pháp trong thế giới ngầm được lưu chuyển dần ra thị trường hợp pháp, từ đó dẫn đến những biến động trong cung cầu tiền tệ, bất ổn định lãi suất, tỷ giá hối đoái từ đó sẽ làm mất đi hiệu lực của chính sách tiền tệ trong nước, gây ra nhiều khó khăn trong công tác điều hành kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Với nhiều thủ đoạn tinh vi và hình thức phức tạp, hành vi rửa tiền nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc của các tài sản do phạm tội mà có để che giấu nguồn gốc và “biến hóa” thành tiền sạch hay tài sản hợp pháp. Các hậu quả tiêu cực mà hành vi rửa tiền mang lại có thể kể đến là: i) phá vỡ sự ổn định, tiềm ẩn nhiều hậu quả nghiêm trọng cho cả nền kinh tế; ii) gây bất ổn thị trường tài chính – tiền tệ; iii) tác động tiêu cực đến xu hướng đầu tư với rủi ro cao, làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế; iv) hệ thống tổ chức tài chính, thậm chí có thể bị thao túng bởi các băng nhóm tội phạm (Tạp chí Tài chính, 2019). Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về rửa tiền trên thế giới: Với cách tiếp cận khái quát về hành vi rửa tiền, Cơ quan đặc nhiệm tài chính quốc tế FATF định nghĩa: “Rửa tiền là toàn bộ những hoạt động được tiến hành nhằm cố ý hợp thức hóa những khoản tiền, tài sản có nguồn gốc từ các hành vi phạm tội”.
Bằng cách chi tiết các dạng hành vi rửa tiền, Công ước Vienna 1988 và Công ước Palermo 2000 của Liên hợp quốc định nghĩa: “Rửa tiền là các hoạt động chuyển hoán hoặc chuyển nhượng tài sản khi: Biết tài sản đó có nguồn gốc từ các hành vi phạm tội; Tham gia vào hành vi nhằm mục đích giấu giếm hoặc che đậy nguồn gốc phi pháp của tài sản; Tiếp tay cho bất kỳ cá nhân nào tham gia vào hành vi này; Giấu giếm hoặc che đậy bản chất thực, nguồn gốc, địa điểm, việc định đoạt, sự chuyển dịch, các quyền liên quan đến tài sản hoặc quyền sở hữu tài sản khi biết rằng tài sản đó có được từ hành 12 vi phạm tội; Có được, chiếm hữu hoặc sử dụng tài sản khi tại thời điểm tiếp nhận nó đã biết rằng tài sản này có được từ hành vi phạm tội”. Kết hợp cả hai cách thức định nghĩa trên, Ở Việt Nam, Khoản 1 Điều 4 Luật PCRT đưa ra định nghĩa: “Rửa tiền là hành vi của tổ chức, cá nhân nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc của tài sản do phạm tội mà có, bao gồm: (i) Hành vi được quy định trong Bộ luật hình sự (BLHS) ; (ii) Trợ giúp cho tổ chức, cá nhân có liên quan đến tội phạm nhằm trốn tránh trách nhiệm pháp lý bằng việc hợp pháp hóa nguồn gốc tài sản do phạm tội mà có; (iii) Chiếm hữu tài sản nếu tại thời điểm nhận tài sản đã biết rõ tài sản đó do phạm tội mà có, nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc tài sản”. Như vậy, với cách hiểu khái quát nhất, có thể định nghĩa hành vi rửa tiền: là hành vi của tổ chức, cá nhân nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc của tài sản do phạm tội mà có. Hành vi rửa tiền thường tập trung vào các giao dịch tài chính, ngân hàng hoặc giao dịch khác liên quan đến tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có nhằm che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của tiền, tài sản đó; sử dụng tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động khác; che giấu thông tin về nguồn gốc, bản chất thật sự, vị trí, quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có hoặc cản trở việc xác minh các thông tin đó; thực hiện một trong các hành vi trên đối với tiền, tài sản biết rõ là có được từ việc chuyển dịch, chuyển nhượng, chuyển đổi tiền, tài sản do phạm tội mà có (Trần Xuân Huệ, 2016, Tr.
Xuất phát từ định nghĩa hành vi rửa tiền, có thể rút ra hai đặc điểm lớn của hành vi rửa tiền là: Thứ nhất, rửa tiền mang tính phái sinh: Rửa tiền luôn đi kèm với những hoạt động phạm tội trước đó, có thuộc tính tự nhiên vào tội phạm nguồn. Có thể nói rằng nếu không có tội phạm nguồn thì cũng không có hành vi rửa tiền. Rửa tiền chính là kết quả tất yếu của những hoạt động phạm tội xảy ra trước đó với mong muốn xóa sạch dấu vết bất hợp pháp của những đồng tiền “bẩn”. Thứ hai, rửa tiền mang tính quốc tế: Thể hiện ở hai khía cạnh: một là quá trình rửa tiền từ khi bắt đầu đến khi kết thúc có thể liên quan đến nhiều quốc gia và hai là phải có được sự phối hợp chặt chẽ giữa các quốc gia thì hành vi rửa tiền mới có thể bị bài trừ.
Trên thực tế, hoạt động rửa tiền có thể dựa vào nhiều cách thức khác nhau mà cách thức chủ yếu được áp dụng là chuyển một lượng lớn tiền ra nước ngoài bằng con 13 đường hợp pháp hay phi pháp sau đó hợp pháp hóa khoản tiền đó bằng nhiều cách như gửi tiền đó vào hệ thống tài chính, đầu tư chứng khoán, đầu tư bất động sản… sau đó thu ngược số tiền đó quay về quốc gia ban đầu hoặc khắp thế giới nhằm thực hiện mục đích của người tội phạm. Các giai đoạn của rửa tiền Mục đích của rửa tiền chuyển nhằm chuyển đổi tài sản hoặc hoa lợi, lợi tức được tạo ra từ những khoản bất chính, tham nhũng, biến chúng thành những tài sản được xem là “hợp pháp” (Tài sản được chuyển hóa từ thu nhập bất hợp pháp) khiến cho các cơ quan có thẩm quyền không thể truy ra nguồn gốc số tài sản đó. Nói cách khác, rửa tiền là hoạt động chính của kinh tế ngầm, bao gồm một tập hợp những hành động nhằm che giấu nguồn gốc đồng tiền có được nhờ buôn lậu, buôn bán ma tuý, tham nhũng.và chuyển thành những khoản tiền hợp pháp. Rửa tiền cũng được xem là hành vi của cá nhân hay tổ chức hợp pháp hóa các khoản tiền hay tài sản có được từ hành vi phạm tội.
Bằng những thủ đoạn tinh vi, tội phạm tìm cách biến hóa tiền, tài sản bất hợp pháp có được từ các hành vi phạm tội (black money: tiền bẩn là số tiền nhận được từ những hoạt động phi pháp) thành những đồng tiền hợp pháp có nguồn gốc sạch sẽ để sử dụng. Bằng các hoạt động phi pháp, tội phạm có thể kiếm được một số tiền khổng lồ nhưng không thể đưa chúng vào hệ thống ngân hàng qua giao dịch thông thường vì có thể bị phát hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy số tiền "bẩn" này cần phải được "rửa" sạch. Theo cách nói ẩn dụ, “rửa tiền” là "làm sạch đồng tiền" phù hợp theo luật pháp, là hoạt động giao dịch tài chính đặc biệt để giấu tên, nguồn và nơi đến của đồng tiền.
Số tiền này thường được sử dụng dưới những hình thức tích lũy tài sản, như: mua bán bất động sản, đầu tư chứng khoán, đầu tư dự án, công trình, tiết kiệm. Hoạt động rửa tiền có thể được thực hiện qua nhiều công đoạn, với các thủ đoạn khác nhau, tạo thành một chu trình. Mỗi hành vi cụ thể trong chu trình này là một phần cần thiết của hoạt động rửa tiền nói chung và đều là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Thông thường, quá trình rửa tiền được nhận diện/tiến hành theo một quá trình gồm 3 giai đoạn sau đây: Thứ nhất, giai đoạn phân phối/sắp xếp (placement): Các khoản tiền có được từ hành vi phạm tội được đưa vào lưu thông trong hệ thống tài chính (gọi tắt là “gài đặt”, “gửi tiền”).
Đây là giai đoạn đầu tiên để đưa “tiền bẩn” vào sử dụng trong hệ thống kinh tế và cũng là giai đoạn khó khăn nhất bởi lẽ tài sản/ tiền từ hành vi phạm tội chịu sự 14 theo dõi gắt gao của các cơ quan Nhà nước và những rào cản từ các quy định của các tổ chức nhằm phát hiện và theo dõi những giao dịch đáng ngờ rất chặt chẽ. Các tội phạm rửa tiền (cá nhân, tổ chức) tìm cách đưa tiền bẩn vào hệ thống tài chính; thực hiện đầu tư phân tán bằng cách chia các khoản “tiền bẩn” thành nhiều khoản tiền nhỏ dưới mức quy định để hợp thức hóa tiền bẩn. Những hình thức được chúng sử dụng phổ biến, như: chia nhỏ tiền gửi vào ngân hàng nhiều lần để lượng tiền mỗi lần giao dịch đủ nhỏ, không phải khai báo; mua hàng xa xỉ đắt tiền; chuyển tiền ra nước ngoài qua các kênh chợ đen… Thứ hai, giai đoạn dàn trải/phân tán (layering): Sau khi đưa tiền vào hệ thống tài chính thành công, tội phạm sẽ tiến hành các giao dịch, như: chuyển tiền đến các tài khoản ngân hàng nội địa; chuyển tiền ra nước ngoài; đầu tư dự án, xây dựng, chứng khoán, mua bán bất động sản,…Thông qua các tổ chức tài chính, các khoản tiền sẽ được giao dịch qua lại giữa các tài khoản ngân hàng, các quốc gia, đầu tư dự án, thương mại hàng hóa, dịch vụ,…Quá trình tích tụ và quay vòng các khoản tiền sau khi đã thâm nhập hệ thống tài chính, gọi tắt là “chuyển dịch”, “sắp xếp”. Đây là quy trình tạo ra một chuỗi các giao dịch phức tạp và khó lần dấu vết nhằm mục đích che đậy các nguồn tiền từ các hoạt động phi pháp và làm cho chúng ngày càng xa nguồn gốc ban đầu.
Trong giai đoạn này, bằng việc sử dụng các giao dịch giữa các tổ chức tài chính kết hợp với hàng loạt các hoạt động thương mại, tài chính, tiền được lưu chuyển liên tục và nhiều lần giữa các tổ chức tài chính nhằm che giấu nguồn gốc ban đầu và cắt đứt mối liên hệ với tổ chức tội phạm. Thứ ba, giai đoạn hội nhập/quy tụ (integration): Các khoản tiền chính thức nhập vào nền kinh tế hợp pháp và có thể sử dụng cho các mục đích đầu tư hợp pháp (gọi tắt là “hoà nhập”).