Chương I: Tổng quan tài liệu 20 trang; Chương 2: Địa điểm và phương pháp nghiên cứu 9 trang; Chương 3: Kết quả và biện luận 48 trang; Kết luận và kiến nghị 2 trang : Tài liệu tham khảo 6 trang. Phần phụ lục gồm các môi trường sử dụng trong nghiên cứu, các bảng số liệu kết quả và hình ảnh liên quan đến đề tài. CHUONG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. GIỚI THIỆU VE LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, DAC DIEM KIEN TRUC LANG TAM, DAI NOI TAI HUE VA KHU PHO CO HOI AN QUANG NAM 1.
Lịch sử hình thành và đặc điểm kiến trúc ở một số lăng tắm, Đại Nội tại Huế a. Lịch sử hình thành Trong thời gian trị vì ở Huế (1802 - 1945), các vua nhà Nguyễn đã để lại cho hậu thế nhiều di sản kiến trúc có giá trị văn hóa sâu sắc và độc đáo. đó, có hệ thống 7 khu lăng tẩm của các vị vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức, Đồng Khánh và Khải Định. Các lăng tắm đều tọa lạc về phía tây của Kinh đô Huế, dọc hai bên bờ thượng nguồn sông Hương.
Kinh thành Huế nằm trong quân thể kiến trúc tại Cố đô Huế, được vua Gia Long tiến hành khảo sát từ năm 1803, khởi công xây dựng từ 1805 và hoàn chỉnh vào năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng. Toàn bộ kiến trúc khoảng hơn 100 công trình lớn nhỏ. Trong đó, Đại Nội là nơi làm việc và thờ tự tổ tiên của các vị vua nhà Nguyén [1]. Đặc điểm kiến trúc.
Hệ thống lăng mộ của các vị vua triều Nguyễn hầu như đều nằm trên đổi cao, có núi dựa phía sau, trước mặt đều có hồ nước, khe suối hoặc đồng ruộng. Khuôn viên của các lăng tâm rộng, thoáng mát, các lăng ở vị trí tương đối xa nhau và cách xa trung tâm thành phố Huế. Trong đó: Lăng Minh Mạng được xây dựng hoàn thành vào năm 1843, với tổng diện tích là 15 ha, giới hạn trong một vòng la thành xây bằng gạch đá, dày 0,5 m, cao từ 2,5 - 3,5 m, chu vi rộng hơn 1700 m, chạy quanh co theo thế đất. Bên trong có 40 công trình kiến trúc được bố trí đối xứng, nhất quán dựa trên trục thần đạo dài hơn 700 m.
Minh Lâu và Tây Phối Điện là hai kiến trúc tiêu biểu của lăng, vật liệu sử dụng đề xây dựng chủ yếu là gỗ kiền kiền và sơn. Trải qua thời gian lâu dài, nhiều vị trí trong di tích đã và đang bị xuống cấp nghiêm trọng. Do đó, cần có biện pháp trùng tu, bảo tồn thích hợp để giữ gìn giá trị của di sản [1] Năm 1867, kiến trúc lăng Tự Đức được hoàn thành, với tổng diện tích rộng 12 ha, gần 50 công trình kiến trúc lớn nhỏ trải dài thành từng cụm. Các công trình trong khuôn viên của lăng nằm trên thế đất phức tạp, cao thấp hơn nhau khoảng 10 m.
Nhà cửa, nội thất trong lăng đều làm bằng gỗ sơn hoặc kiền kiền, nhưng kiến trúc lăng mộ được xây bằng gạch, đá. Các nhà kiến trúc thời vua Tự Đức đã lợi dụng nguồn nước từ con suối nhỏ uốn nắn theo thế đất, tạo nên hồ Lưu Khiêm rộng, chứa nước quanh năm. Ba di tích Xung Khiêm Tạ và Dũ Khiêm Tạ là những nơi ở vị trí đẹp trong lăng, thu hút nhiều khách tham quan, du lịch. Nhưng hiện nay các công trình này đã xuống cấp nghiêm trọng, cần được trùng tu, tôn tạo và xây dựng hệ thống quản lý bảo tồn di tích phù hợp [1] Kinh Thành Huế được quy hoạch bên bờ Bắc sông Hương, xoay mặt về hướng Nam, với diện tích mặt bằng 520 ha và được giới hạn bởi 3 vòng la thành.
Điện Thái Hòa thuộc Đại Nội ~ Kinh Thành Huế, nơi đây tượng trưng cho quyền lực của vua triều Nguyễn, thường tô chức các buôi họp triều quan trọng. Cung Điện được xây trên nền đá cao 1 m, nên lát gạch Bát Tràng, mái lợp bằng ngói hoàng lưu ly, các cột được sơn son, thếp vàng. Tổng diện tích 1200 m°, được chống đỡ với 80 cột gỗ có trang trí hình rồng. Kiến trúc thiết kế theo lối của phương Tây kết hợp với kiến trúc thành quách phương Đông.
Lịch sử hình thành và đặc điểm kiến trúc của khu phố cỗ Hội An~ Quảng Nam a. Lịch sử hình thành Bố cục kiến trúc, kiểu thức xây dựng hiện tại của khu đô thị cổ Hội An được xây dựng vao thé ky XVI — XVII và cuối thế kỷ XVIII - dau thế kỷ XIX. Vào thời kì này, đây là trung tâm thương mại lớn, thu hút nhiều thương gia đến từ Trung Quốc, Nhật Bản [17], [21]. Đặc điểm kiến trúc Khu phố cỗ Hội An bao gồm nhiều loại hình di tích như: cửa hiệu, đình, chùa, miếu, cầu, nhà thờ tộc, mộ, giếng, hội quán, chợ.
Tổng diện tích khu phố cô là 30 ha, kiến trúc được bố trí theo hình bàn cờ, các phố chạy ngang dọc theo hướng Đông — Tây, Bắc - Nam [25]. Đặc điểm chung của kiến trúc: kiểu nhà phố có hình ống, chiều ngang. hẹp khoảng 4 — 8 m, chiều sâu khoảng 10 ~ 40 m, có tận dụng kỹ thuật, vật liệu truyền thống của nhà rường [25]. Trong hệ thống các công trình này, có một số kiến trúc mang tính chất đặc trưng của đô thị cỗ đã được chọn tiến hành nghiên cứu trong phạm vi đề tài, cụ thể: Đình Cẩm Phô xây dựng từ rất sớm và được trùng tu năm 1817.
Đây là một đình làng người Việt có kiến trúc hoàn chỉnh, tiêu biểu với không gian cây đa, bến nước, sân đình và bố trí mặt bằng gồm bái đình ở giữa, phương, hướng của đình phía trước kết hợp với nhà đông, nhà tây hai bên. Hệ thống kiến trúc cột đình và kèo mái được sử dụng chủ yếu là gỗ sơn, kiền kiền và muông [25] Chùa Cầu là kiến trúc biểu tượng của Hội An, được xây dựng vào năm 1593 được trùng tu lại năm 1997. Cầu dài khoảng 18 m, mái chùa lợp ngói âm dương che kín cầu, móng cầu được làm bằng vòm trụ đá, phần trên có kết cầu gỗ. Gắn liền với cầu là một ngôi chùa nhỏ nằm về phía thượng nguồn của sông Hoài.
Chùa và cầu đều làm bằng gỗ sơn, có chạm trỗ rất công phu, mat chùa quay về phía bờ sông [25]. Nhà cô Tân Ký đặc trưng cho kiến trúc nhà cổ ở khu phố cỗ Hội An Kiến trúc nhà hình ống luôn có một sân trời, được lát đá, trang trí bể nước, non bộ, cây cảnh, để đón ánh sáng và tạo không gian xanh. Toàn bộ không gian của ngôi nhà có hệ thống cột gỗ làm từ gỗ sơn và muông, đây là bộ phần tạo dựng nên khung nhà. Một số vị trí khác vật liệu gỗ được thay thế bằng gỗ kiền kiền, mít,.Đặc điểm kiến trúc này được chạm khắc với nhiều hoa văn tỉnh xảo [25].
Đặc điểm địa hình và khí hậu thủy văn của Hội An là điều kiện để hình thành thương cảng (từ thế kỷ XVI đến đầu thế ky XVIII). Trải qua những biến cố của thời gian, nhiều công trình kiến trúc tại đây bị xuống cấp nghiêm trọng. Do đó, cần xây dựng hệ thống các biện pháp bảo tồn và quản lý đề giữ gin di san van hóa này [22]. MOT SO DAC DIEM VE NAM PHA HOAI GO 1.
Sự phân bố của nấm phá hoại gỗ Thành phần loài nắm phá hoại gỗ thể hiện trong sự phân bó loài và số lượng của thể quả. Khả năng phá hoại gỗ mạnh hay yếu, số lượng loài và quả thể nhiều hay ít phụ thuộc vào đặc điểm của từng loài nắm, tuổi của vật liệu gỗ và các điều kiện ngoại cảnh như: địa hình, khí hậu, hoạt động của động vật và con người. Các yếu tố đó, có quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại và ảnh hưởng đến sự phân bồ của các loài nắm phá hoại gỗ [18], Vật liệu gỗ được sử dụng để xây dựng kiến trúc là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân bố của nắm. Browne (1968) hầu hết các loài nam phá hoại gỗ có đời sống kí sinh hoặc hoại sinh.
Quá trình phân hủy gỗ là một chuỗi kế tiếp các loại nắm. Theo Clubbe (1980), Eaton va Hale (1993), nghiên cứu, loài tiên phong xâm hại cơ chất là vi khuẩn - nám mốc cấp sơ cấp. ~— nấm gây biến màu — nắm mục mềm — nắm mục (nắm mục khô, nắm mục trắng, nắm mục nâu) — nắm móc thứ cấp [31]. Những phần gỗ nào bị phá hủy nhanh thì tốc độ mọc của hệ sợi và quả thể nắm nhanh và tập trung hơn.
Sự phân bố các loài nắm phá hoại gỗ còn phụ thuộc vào yếu tố địa lí và địa hình như: độ cao, hướng phơi, độ dốc của kiến trúc. Đây là những nhân tố điều tiết đến tiểu vùng khí hậu, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển của nắm [I§] Sự xuất hiện của côn trùng cũng ảnh hưởng rõ rệt đến sự phân bố các loài nắm. Năm 1977, Xinco nhận thấy sự xuất hiện các loài mối, mọt có thể tạo điều kiện cho sự xâm nhiễm và phá hủy gỗ của im. Theo nghiên cứu của B.N Namaev (1977) đã chia côn trùng ra làm 5 nhóm khác nhau.
Trong đó, có 2 nhóm có quan hệ cộng sinh với nắm, nhóm tạo ra các chất làm tăng hoạt động của nắm phá hoại gỗ, hiệu quả đồng hóa gỗ tăng lên, có nhóm lấy nắm làm thức ăn [18]. Các nhân hính nêu trên đã ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, tác động trực tiếp hay gián tiếp trong suốt quá trình hoặc một giai đoạn phát sinh và phát triển của nắm phá hoại gỗ. Đặc điểm hình thái và cấu tạo của nấm phá hoại gỗ a. NẤm mục Đặc điểm hình dạng quả thể là chỉ tiêu quan trọng để nghiên cứu đặc điểm phân bố và đánh giá mức độ xâm hại của nắm.
Có nhiều dạng quả thể khác nhau như: dạng trải sát giá thể, dạng trải sát giá thể mép cuộn ngược, dạng quạt,. Một số loài có hình dạng quả thể thay đổi tùy theo vị trí mọc trên giá thể. Nắm hoại sinh phá hủy gỗ có kích thước quả thẻ trung bình từ 3 — 15 em. Màu sắc của quả thể rất đa dạng, đặc trưng cho từng chỉ nấm.
Các màu thường gặp như: trắng, nâu đen, đen, nâu sẫm,.Theo nghiên cứu của 10 Ryvarden va Gilbertston (1993) cho thấy màu sắc này là do hỗn hợp polyphenol, chúng bền hay phai màu là do nguyên nhân tự nhiên [47] Kích thước và hình dạng của ống nám đặc trưng cho từng chỉ, loài. nấm có thể xếp một tầng hay nhiều tầng, sống lâu năm như chỉ (Phellinus), hay giữa các tầng ống có lớp mô mỏng như loai (Perenniporia medulla - panis).