MỞ ĐẦU Nƣớc là một tài nguyên đang đƣợc con ngƣời khai thác và sử dụng. Nƣớc chiếm một vị trí quan trọng đối với con ngƣời. Nƣớc cần thiết cho trao đổi chất, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển. Công nghiệp và nông nghiệp không thể phát triển nếu thiếu nƣớc.
Vì vậy nƣớc sạch là vô cùng cần thiết. Mặc dù đã cố gắng làm sạch môi trƣờng nhƣng 2/3 dân số thế giới không đƣợc dùng nƣớc sạch. Cùng với sự gia tăng dân số và nhịp độ tăng trƣởng ngành công nghiệp, nƣớc sạch bị khai thác ồ ạt và bị ô nhiễm do nƣớc thải nhà máy, nƣớc thải trong sản xuất nông nghiệp và nƣớc thải sinh hoạt của con ngƣời [7]. Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trƣờng, nhƣng tình trạng ô nhiễm nƣớc là vấn đề rất đáng lo ngại.
Ở nƣớc ta vấn đề ô nhiễm các nguồn nƣớc đã và đang gây lo ngại tại các thành phố và khu công nghiệp. Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nƣớc. Môi trƣờng nƣớc ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nƣớc thải, khí thải và chất thải rắn. Ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trƣờng nƣớc do không có công trình và thiết bị xử lý chất thải.
Ô nhiễm nƣớc do sản xuất công nghiệp là rất nặng. Theo báo cáo giám sát của Uỷ ban khoa học, công nghệ và môi trƣờng của Quốc hội, tỉ lệ các khu công nghiệp có hệ thống xử lí nƣớc thải tập trung ở một số địa phƣơng rất thấp, có nơi chỉ đạt 15 - 20%, nhƣ Bà Rịa - Vũng Tàu, Vĩnh Phúc. Một số khu công nghiệp có xây dựng hệ thống xử lí nƣớc thải tập trung nhƣng hầu nhƣ không vận hành vì để giảm chi phí. Đến nay, mới có 60 khu công nghiệp đã hoạt động có trạm xử lí nƣớc thải tập trung (chiếm 42% số khu công nghiệp đã vận hành) và 20 khu công nghiệp đang xây dựng trạm xử lí nƣớc thải.
Bình 1 quân mỗi ngày, các khu, cụm, điểm công nghiệp thải ra khoảng 30.000 tấn chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải độc hại khác. Hầu nhƣ các chất thải ở cơ sở sản xuất, nƣớc thải sinh hoạt không đƣợc xử lý hoặc chỉ xử lý sơ bộ trƣớc khi thải ra môi trƣờng. Do tình trạng ô nhiễm các nguồn nƣớc nên chúng ta cần phải quản lý, xử lý nƣớc thải một cách khoa học và hiệu quả. Cần phải xử lý ngay từ đầu các nguồn chất thải.
Tùy thuộc đặc tính từng loại nƣớc thải mà ngƣời ta có những biện pháp xử lý thích hợp. Nƣớc thải sau xử lý phải đạt mức tiêu chuẩn đã quy định mới đƣợc thải ra môi trƣờng. Hiện nay, tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên có nhiều nhiều bãi vàng phân tán, trữ lƣợng nhỏ, không đƣợc quản lí và kiểm soát, nên ngƣời dân đã khai thác tự do, nƣớc thải không đƣợc xử lý, thải trực tiếp ra môi trƣờng. Đó là nguyên nhân gây ô nhiễm các con suối, dòng sông và môi trƣờng ở khu vực này.
Vì vậy, chúng tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu phân tích hàm lƣợng xianua và đánh giá ô nhiễm trong nƣớc thải một số bãi vàng huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”. Đây là hai trong số bốn bãi vàng lớn đang khai thác tự do tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. NGUỒN GỐC GÂY Ô NHIỄM XIANUA 1.
Ô nhiễm tại các cơ sở khai thác vàng Nƣớc ta có trữ lƣợng vàng (Au) không lớn, lại nằm rải rác trên nhiều địa phƣơng. Vì vậy việc khai thác đang đƣợc nhiều cấp đảm nhiệm. Nhƣng do cách quản lý tổ chức khai thác của ta chƣa tốt nên nhiều địa phƣơng để xảy ra sự khai thác, xử lý quặng vàng bừa bãi, trái phép gây lãng phí tài nguyên, huỷ hoại môi trƣờng, làm mất cân bằng sinh thái [1]. Theo khảo sát thực tế, các cơ sở khai thác vàng thƣờng tiến hành theo quy trình: Quặng vàng trƣớc tiên đƣợc nghiền đập và phân cấp hạt qua sàng 0,1mm, sau đƣa sang tuyển trọng lực bằng nƣớc để thu những hạt vàng lớn (nếu có).
Tinh quặng thu đƣợc trong quá trình tuyển nổi nằm trên máng tuyển đƣợc thu lại và chuyển vào hỗn hống với Hg. Quặng tƣơi ở dạng bột ƣớt sau khi tuyển trọng lực đƣợc đƣa vào bể hoà tách xyanua trong kiềm vôi có thiết bị cấp oxy cƣỡng bức và thêm các phụ gia cần thiết. Sau thời gian hoà tan thích hợp, dung dịch chứa các phức xyanua Au, Ag đƣợc chuyển sang cột hoàn nguyên kim loại vàng, bạc bằng Zn kim loai [1].: 2Au(CN)4- + Zn Zn(CN)42- + 2Au 2Ag(CN)2- + Zn Zn(CN)42- + 2Ag Hỗn hợp thu đƣợc đem phân kim để thu vàng tinh khiết và bạc tinh khiết. Theo sơ đồ tách vàng bằng xyanua trên, ta thấy nếu thực hiện nghiêm chỉnh theo chu trình kín, có xử lý xyanua sau khi thu hồi vàng thì không gây ô nhiễm môi trƣờng.
Tuy nhiên, thực tế tại các bãi đào vàng những ngƣời làm vàng tự do lại không thực hiện khâu xử lý xyanua dƣ thừa sau khi tách vàng ở trong bùn và nƣớc lọc. Do thiếu ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trƣờng, do sợ tổn phí thêm khâu xử lý hoặc do thiếu hiểu biết khoa học nên sau khi thu hồi 3 đƣợc vàng, ngƣời ta đổ bừa chất thải ra môi trƣờng. Thực tế tại các bãi đào vàng ngƣời ta hoà tách bằng xyanua để lấy vàng rất cẩu thả. Vì vậy, lƣợng xyanua thải ra môi trƣờng rất lớn [1].
Việc sử dụng xyanua để xử lý quặng vàng đã gây hậu quả nghiêm trọng đến môi trƣờng. Một số nhà khoa học đã đến phía nam châu Âu để tìm hiểu vấn đề này. Trong thời gian vừa qua nƣớc nhiễm độc xyanua từ các mỏ vàng đã chảy qua sông Tisa ở Hungari và hủy diệt các loài thủy sinh tại đây. Các chất độc đang chảy xuôi dòng đến các dòng sông khác ở châu Âu.
Nhƣng các cố gắng hiện nay để cứu vãn môi trƣờng đã không có hiệu quả bởi vì chính quyền và các cơ quan môi trƣờng đã không đƣa ra đƣợc những biện pháp khả thi để giải quyết vấn đề này. Điều quan trọng là họ không tìm đƣợc một cách xử lý thích hợp bằng hóa chất để khử xyanua. Nếu hiểu rõ về bản chất của các phản ứng hóa học thì có thể tìm ra một phƣơng án tốt nhất mà lại đơn giản và an toàn. Để khử xyanua ra khỏi vùng đất bị nhiễm bẩn ngƣời ta có thể sử dụng loại nấm Phanẹrochaete Chrysosporium, thế nhƣng vấn đề ở đây là phải khử xyanua từ một lƣợng nƣớc thải khá lớn.
Có một số giải pháp hóa học nhƣ dùng lƣu huỳnh và các hợp chất của lƣu huỳnh, các muối sắt hay oxy nguyên tố (gián tiếp qua Cl2 hay muối permanganat) để khử xyanua. Thế nhƣng những cách làm nói trên lại phải dùng tới một lƣợng lớn các hóa chất và chính chúng lại độc hại đối với sinh vật thủy sinh. Giải pháp đơn giản để khử độc xyanua là sục không khí vào nƣớc ô nhiễm xyanua. Nhờ đó mà nƣớc đƣợc hấp thụ CO2 tạo ra H2CO3 axit cacbonic là loại axit yếu nhƣng nó vẫn mạnh hơn axit HCN và nhƣ vậy nó sẽ đẩy HCN từ muối xyanua.
HCN hoặc là bay hơi hay chuyển hóa thành HOCN ít độc hại hơn. Sau đó HOCN với sự có măt của oxy phân tử sẽ chuyển hóa hay thủy phân thành NH3 và CO2: HOCN + H2O → CO2 + NH3 Từ hai phân tử NH3 và một phân tử CO2 sẽ tạo ra (NH4)2CO3 một phân tử CO2 dƣ sẽ hòa tan trong nƣớc và lại chuyển ion xyanua thành HCN. Nhƣ 4 vậy quá trình khử xyanua trong nƣớc thải sẽ diễn ra rất thuận lợi do tự cấp đƣơc nguồn CO2. Để quá trình phản ứng diễn ra nhanh và có hiệu quả ngƣời ta phải sục không khí nén vào nƣớc ô nhiễm.
Hàm lƣợng CO2 trong không khí thấp nên lúc đầu phản ứng tạo ra HCN diễn ra rất chậm chạp; tuy nhiên về sau do CO2 đƣợc tạo ra ngay trong quá trình khử xyanua nên phản ứng nói trên sẽ đƣợc duy trì. Sục khí nén vào nƣớc ô nhiễm là việc tƣơng đối dễ làm nhờ máy nén tuabin, các thiết bị chạy bằng thủy lực hay sức gió. Ô nhiễm tại các cơ sở mạ kẽm và mạ vàng a. Đối với mạ kẽm thƣờng tiến hành theo nguyên lí dƣơng cực tan (bằng dòng điện một chiều) trong dung dịch xyanua – kiềm [1,4] Trong dung dịch đồng thời tồn tại các tiểu phân: Zn(CN)42-, ZnO22-, CN-, OH-, Na+, H2O và một lƣợng rất nhỏ Zn2+.
Cân bằng chủ yếu trong dung dịch: Zn(CN)42- + 4OH- ZnO22- + 4CN- + 2H2O Vì vậy các tiểu phân Zn(CN)42-, ZnO22-, CN-, OH- có liên quan chặt chẽ với nhau, nồng độ của chúng có ảnh hƣởng trực tiếp đến đƣờng cong phân cực, đến chất lƣợng lớp mạ và hiệu suất dòng điện…[1,4] b. Đối với mạ vàng: Công nghệ mạ vàng phổ biến nhất đƣợc tiến hành trong dung dịch xyanua, hoặc xyanua – kiềm, bởi vì trong các dung dịch này các anion phức xyanua của vàng có thế khá âm, tránh đƣợc sự kết tủa Au khi dd này tiếp xúc với các kim loại khác. Để tránh tuyệt đối hiện tƣợng Au, ngƣời ta thƣờng hỗn hống hóa trƣớc khi mạ, bằng cách nhúng vật cần mạ vào một trong các dung dịch sau đây [1]: - DD1: HgCl2 7,5g/l + NH4Cl 4,0g/l. - DD2: HgO 75g/l + NaCl 60g/l.
- DD3: K2Hg(CN)4 5-10g/l + KCN 10-20g/l. Cách hỗn hống: Nhúng vật cần hỗn hống vào một trong các dd trên trong thời gian 3 – 5 giây, ở nhiệt độ thƣờng. 5 Hàm lƣợng vàng trong dung dịch mạ thƣờng rất nhỏ, vì vàng đát tiền và để tránh tổn thất trong sản xuất, nên mật độ dòng điện cho phép cũng rất nhỏ (~0,05 – 0,10 A/dm2). KHÁI QUÁT VỀ CÔNG DỤNG VÀ ĐỘC TÍNH CỦA XIANUA Axit xyanhydric và các muối xyanua tan là những chất độc rất mạnh, chỉ cần lƣợng chừng 50mg là có thể giết chết một ngƣời.
Tuy nhiên các muối kim loại của axit xyanhydric lại có vai trò rất lớn trong nhiều ngành công nghiệp [1]: - Công nghiệp mạ vàng, bạc, đồng hoặc các kim loại khác. - Công nghiệp khai thác vàng – thu hồi vàng bằng phƣơng pháp xyanua hoá. - Công nghiệp sản xuất các pigmen (bột mầu) dùng cho ngành công nghiệp sơn, bột vẽ, dệt nhuộm cần các muối xyanua làm nguyên liệu. - Công nghiệp sản xuất thuốc trừ sâu: xyanit canxi để diệt rệp và côn trùng trong nhà ở.